Thời Sự Y Học số 117
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ MỘT CUỘC SỐNG LÀNH MẠNH ĐỂ TRÁNH HÀNG TRIỆU UNG THƯ
Epidémiologie : Những thay đổi nhỏ trong chế độ ăn uống có thể làm giảm 30% nguy cơ bị ung thư đại tràng và vú.
“ Phải thôi nghĩ rằng ung thư là do sự kém may mắn, hoặc là một hành động của ông trời ”, Giáo sư Martin Wiseman, thuộc Quỹ nghiên cứu thế giới chống ung thư đã nhấn mạnh như vậy. Thật vậy, những thay đổi đơn giản như đi làm việc bằng xe đạp hay giảm một ít sự tiêu thụ thịt đỏ, có thể làm giảm rất nhiều những nguy cơ phát triển những bệnh chết người như các ung thư vú và tụy tạng, báo cáo mà ông đã trình bày tuần vừa qua ở Londres đã giải thích như vậy.
Những hiệu quả có lợi của một chế độ ăn uống lành mạnh và đa dạng, của một hoạt động thể dục đều đặn và của một sự kiểm soát thể trọng, đã được chứng tỏ từ một báo cáo đầu tiên, được công bố bởi Quỹ quốc tế chống ung thư năm 2007, nhưng những công trình bổ sung, được thực hiện bởi nhiều nhà dịch tễ học, đã cho phép đánh giá bao nhiêu mạng người có thể được cứu thoát bằng những thay đổi khiêm tốn của hành vi. Sau thuốc lá, vẫn là yếu tố nguy cơ chủ yếu nhất, sự dinh dưỡng, sự tập thể dục và cuộc đấu tranh chống lại béo phì là những yếu tố quan trọng nhất để làm giảm xác suất bị ung thư.
“ Những kết quả rất là đáng phấn khởi, giáo sư Sir Michael Marmot, nhà dịch tễ học của University College de Londres và người lãnh đạo của nhóm thực hiện công trình, đã đánh giá như vậy. 1/3 của 12 ung thư thông thường nhất trong những nước phát triển, và ¼ trong những nước đang phát triển, có thể tránh được. ” Trong số những ung thư thông thường này là những ung thư họng, phổi và đại tràng. Trên 10 triệu trường hợp ung thư mới mỗi năm trên thế giới, từ ¼ đến 1/3 có thể tránh được với những lối sống lành mạnh hơn.
“ Để đo lường những hiệu quả của những biện pháp mà chúng tôi đề nghị, chúng tôi không cho rằng mỗi người sẽ có những lối sống hoàn toàn lành mạnh, giáo sư Elio Riboli, nhà dịch tễ học của Imperial College de Londres. đã đảm bảo như vậy, chúng tôi đưa ra những giả thuyết về những thay đổi nhỏ, như đối với người nào đó giảm một ít sự tiêu thụ hàng ngày thịt đỏ và đồ thịt lợn, ăn trái cây và rau xanh hơi nhiều hơn hay tập một ít thể dục như dạo bước mỗi ngày. ” Với những giả thuyết như vậy, những tiến bộ sẽ có thể đáng kể.
Trong những nước phát triển như Hoa Kỳ hay Vương Quốc Anh, được giữ trong công trình nghiên cứu, hơn 63% các ung thư miệng sẽ có thể biến mất. Đối với ung thư dạ dày, sự thu giảm ít nhất sẽ là 45%. Nhưng hiệu quả hơi thấp trong những nước như Trung Quốc và Brésil, bởi vì họ đuổi theo các lối sống của chúng ta và những thói quen ăn uống xấu của chúng ta, nhưng hơi bị chậm trễ và những hậu quả chưa nghiêm trọng như trong các nước giàu.
NHỮNG LỜI KHUYẾN NGHỊ CHO CÁC NGƯỜI LÀM CÔNG TÁC Y TẾ
Để cho những lời khuyến nghị của mình có hiệu lực, những tác giả của báo cáo đã đưa ra những lời khuyên cụ thể cho tất cả các người chủ chốt của y tế công cộng, của các xí nghiệp nông phẩm cũng như chính quyền, đồng thời không quên các tư nhân. “ Sau cùng, chính mỗi cá nhân và không ai khác, phải chọn cho mình một lối sống lành mạnh, Sir Michael Marmot xác nhận như vậy. “ Nhưng cái thế giới, trong đó mỗi cá nhân sống, phải kích thích và cho phép anh ta thực hiện những thay đổi này. Sáng nay, lúc đến Luân Đôn, tôi đã chỉ lợi dụng một đoạn đường đi dành cho xe đạp trên vài trăm mét, và sau đó mạnh ai nấy đi trên đường giao thông. Và nếu tôi muốn dừng lại dọc đường để ăn lấy lại sức, thì tôi sẽ tìm thấy vô số các cửa hàng ăn, các tiệm bán pizzas và những fast-foods khác, nhưng rất ít nơi có thể tìm thấy một thức ăn lành mạnh.” (LE FIGARO 2/3/2009)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr74.htm (TSYH74, bài số 3 và số 4)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr72.htm (TSYH 72, bài số 2)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr63.htm (TSYH 63, bài số 1) http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr68.htm (TSYH 68, bài số 2)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr59.htm (TSYH 59, bài số 4)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr54.htm (TSYH 54, bài số 9).
2/ LÝ THUYẾT VỀ NHỮNG TẾ BÀO GỐC UNG THƯ
Khả năng gây ung thư không chỉ dành cho vài tế bào hiếm hoi của cơ thể, như một vài công trình nghiên cứu trước đây đã cho biết như vậy, mà trái lại, khả năng này chung cho nhiều tế bào. Tuy vậy, nhiều công trình, được tiến hành trong những năm qua, gợi ý rằng chỉ có một tế bào trong số một triệu tế bào được tìm thấy trong các ung thư da, vú hay ruột, là có thể sinh ra một ung thư mới nơi những chú chuột có hệ miễn dịch bị suy yếu. Lý thuyết những tế bào gốc ung thư (théorie des cellules souches cancéreuses), những tế bào hiếm của cơ thể có khả năng tạo ung thư, đã ra đời. Thế mà một công trình nghiên cứu mới của Hoa Kỳ đã xét lại lý thuyết này. Lần này, lúc nghiên cứu trên các chú chuột không có hệ phòng thủ miễn dịch, các nhà nghiên cứu đã cho thấy rằng khoảng ¼ các tế bào được lấy trên một u hắc tố người, rồi được ghép lên động vật, đã sinh ra một ung thư mới. “ Công trình của chúng tôi gợi ý rằng vài ung thư chứa một lượng quan trọng các tế bào sinh ung thư, điều này là cơ bản để phát triển những điều trị thích ứng. Không ích lợi gì khi chỉ nhắm vào một nhóm các tế bào hiếm trong u sắc tố. Phải tiệt trừ tất cả các tế bào của khối u ”, Sean Morrison, đại học Michigan đã giải thích như vậy. (SCIENCE ET VIE 2/2009)
3/ CHỨNG LOÃNG XƯƠNG : SINH HỌC LIỆU PHÁP (BIOTHERAPIE) CHỐNG LẠI CƠ CHẾ PHÁ HUỶ XƯƠNG.
G.S Philippe Orel, trưởng khoa thấp khớp của bệnh viện Lariboisière và thư ký của Hiệp hội khoa thấp khớp của Pháp, giải thích những lợi ích của dénosumab, một điều trị sinh học mà tính hiệu quả vừa được chứng tỏ bởi một công trình nghiên cứu quốc tế.
Hỏi : Những nguy cơ của chứng loãng xương (ostéoporose) là những nguy cơ nào ?
G.S Philippe Orcel : Bệnh lý này là kết quả của một sự mất quân bình tế bào của cơ quan sống là mô xương (tissu osseux). Mô xương, để đổi mới, tùy thuộc vào sự vận hành chức năng tốt của hai loại tế bào : các tạo cốt bào (ostéoblastes), có nhiệm vụ tạo xương và những hủy cốt bào (ostéoclastes), phá hủy xương. Trong trường hợp loãng xương (ostéoporose), sẽ có hoặc là một sự tăng hoạt động quá mức của các hủy cốt bào, hoặc là một sự giảm hoạt động của các tạo cốt bào…Kết quả : lượng xương bị giảm và kiến trúc của lưới xương (trame osseuse) (giàn giáo của xương, échafaudage de l’os) bị biến đổi, trở nên mỏng manh và có thể bị gãy : ở Pháp mỗi năm người ta liệt kê 50.000 trường hợp gãy xương đùi do chứng loãng xương ! Những gãy đốt sống, thường được gọi là “ gãy lún đốt sống ” (tassements vertébraux), và những gãy xương của cổ tay cũng rất thường gặp.
Hỏi : Điều trị chứng loãng xương không ngừng tiến triển. Những tiến bộ mới đây là những tiến bộ nào ?
G.S Philippe Orcel : Cách nay 6 tháng, một thuốc độc đáo trong cuộc đấu tranh chống bệnh loãng xương đã xuất hiện : một bisphosphonate được gọi là thế hệ mới, zolédronate. Thuốc này có ưu điểm lớn là chỉ cho một lần mỗi năm, bằng cách tiêm truyền tĩnh mạch trong 15 phút. Nhờ cách tác dụng ít gò bó hơn nhiều này, người ta tránh được những vấn đề tiêu hóa và những nguy cơ quên uống thuốc. Theo những kết quả của một công trình nghiên cứu quốc tế, được tiến hành trong 3 năm, trên hơn 8.000 người, điều trị này cho phép ngăn ngừa hơn 70% những gãy xương đốt sống và 40% những gãy cổ xương đùi, với một lợi ích gia tăng mật độ xương.
Hỏi : zolédronate có gây nên những phản ứng phụ hay không ?
G.S Philippe Orcel : Người ta quan sát thấy một hội chứng cúm nhẹ 2 đến 3 ngày. Về lâu dài, người ta đã nêu lên một nguy cơ rất thấp (1 trường hợp trên 100.000) bị viêm mắt và hoại tử xương hàm. Do đó cần thăm khám nha sĩ trước khi điều trị. Để bắt đầu điều trị, bệnh nhân phải có một bộ răng lành mạnh.
Hỏi : Tiến bộ lớn khác liên quan đến một loại thuốc được gọi là “ sinh liệu pháp ” (médicament de biothérapie), mà hiệu quả vừa được chứng minh bởi những công trình nghiên cứu quốc tế. Tác dụng của thuốc sinh liệu pháp là những tác dụng nào ?
G.S Philippe Orcel : Từ trước cho đến nay, các điều trị của chứng loãng xương tác động vào những tế bào xương bị rối loạn. Với sinh liệu pháp (hay liệu pháp sinh học, thérapie biologique), người ta nhắm vào những cơ chế, là nguồn gốc của sự mất chức năng của chúng.
Hỏi : Dénosumab tác động lên cơ chế đặc hiệu nào ?
G.S Philippe Orcel : Đó là một kháng thể (được chế tạo trong phòng thí nghiệm bằng génie génétique), làm vô hiệu hóa một protéine (Rank-ligand), chịu trách nhiệm sự sinh ra những tế bào phá hủy, những hủy cốt bào (ostéoclastes). Bằng cách phong bế sự tạo thành chúng, và không làm biến đổi sự tạo thành của các tạo cốt bào, dénosumab ngăn cản sự phá hủy của mô xương. Điều đáng ngạc nhiên, đó là sự nhanh chóng mà những tiến bộ của các kiến thức đã đưa đến sự tạo thành một loại thuốc như vậy ! Trong khi đó, với protéine Rand-ligand, đã được khám phá năm 1999, thì khoảng mười năm sau mới có điều trị ! Chúng ta đang chứng kiến sự cụ thể hóa của tất cả các bước tiến sinh học của nghiên cứu, được thực hiện trong 20 năm qua : đó là một câu chuyện đẹp.
Hỏi : Những kết quả thu được với những thuốc này là gi ?
G.S Philippe Orcel : Trước hết phải nhấn mạnh rằng, cách cho thuốc (một mũi tiêm dưới da mỗi 6 tháng) là rất ít bó buộc đối với bệnh nhân. Theo các kết luận của một công trình nghiên cứu quốc tế rộng lớn, được thực hiện trên hơn 7.000 phụ nữ tuổi mãn kinh (trong đó vài người đã bị gãy xương), người ta lại đã quan sát một sự giảm 70% các gãy xương đốt sống và 40% các gãy cổ xương đùi. Người ta cũng đã chứng nhận một sự gia tăng mật độ xương.
Hỏi : Điều trị này dường như không gây nên những tác dụng phụ ?
G.S Philippe Orcel : Trước mắt, người ta đã không ghi nhận những tác dụng có hại. Nhưng còn phải đợi một khoảng thời gian nào đó để xác nhận tính dung nạp tốt về lâu về dài này.
Hỏi : Thật ra, những ưu điển của thuốc sinh liệu pháp này so với các thuốc hôm nay được lưu hành là những ưu điểm nào ?
G.S Philippe Orcel : Các bisphosphonates được sử dụng hiện nay vẫn tồn tại lâu dài trong xương. Tác dụng về lâu về dài của chúng vẫn còn không được biết đến và có thể đặt ra những nghi vấn. Với các loại thuốc này, chúng ta chỉ có một thời gian kinh nghiệm 10 năm. Trái lại, dénosumab có ưu điểm là một loại thuốc rất dễ kiểm soát : tác dụng của nó ngừng lại ngay khi ta ngừng điều trị, thuốc không có nguy cơ gây độc tính do sự tích luỹ của thuốc trong xương. Sự xuất hiện trên thị trường loại thuốc này sẽ mở rộng sự chọn lựa trong những điều trị nhằm chống lại chứng loãng xương.
Hỏi : Ở Pháp khi nào chúng ta sẽ có thể sử dụng dénosumab.
G.S Philippe Orcel : Chúng ta hy vọng thuốc sẽ được thương mãi hóa vào năm 2010. Những thuốc sinh liệu pháp khác đang được nghiên cứu, nhằm vào những cơ chế khác của sự loạn năng của những tế bào xương. Một trong những thuốc này đang nằm trong kỳ đánh giá ở giai đoạn cuối. Mười năm sau cuộc cách mạng của các sinh liệu pháp trong điều trị bệnh đa khớp, có lẽ chúng ta sẽ chứng kiến một cuộc cách mạng khác, lần này trong lãnh vực của bệnh loãng xương. (PARIS MATCH 26/2- 4/3/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr114.htm (TSYH 114, bài số 7)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr100.htm (TSYH 100, bài số 9)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr102.htm (TSYH 102, bài số 9)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr104.htm (TSYH 104, bài số 5)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr99.htm (TSYH 99, bài số 3 và 5)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr82.htm (TSYH 82, bài số 4)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr77.htm (TSYH 77, bài số 7)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr61.htm (TSYH 61, bài số 6)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr58.htm (TSYH 58, bài số 7)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr57.htm (TSYH 57, bài số 8)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr53.htm (TSYH 53, bài số 4)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr50.htm (TSYH 50, số 8).
4/ CÀ PHÊ VÀ XƯƠNG
Các kết quả xuất phát từ nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, quan tâm đến sự cân bằng Ca nơi người, chỉ cho thấy rằng sự tiêu thụ cà phê có thể gây nên một bilan calcium hơi âm tính. Sự thay đổi âm tính này đã được đánh giá là 4-6 mg calcium đối với mỗi tách cà phê và có lẽ do một sự giảm nhẹ trong hiệu quả của sự hấp thụ của calcium. Hầu hết các công trình nghiên cứu đã không tìm thấy một mối liên hệ nào giữa sự tiêu thụ caféine và mật độ khoáng của xương (DMO : densité minérale osseuse). (LE MAGAZINE DES GLEMS 2/2009)
5/ VIỄN Y CẤP CỨU (TELEMEDECINE D’URGENCE) TRÊN NHỮNG MÁY BAY ĐƯỜNG DÀI
Santé : Hai tỷ hành khách mỗi năm đương đầu với tình trạng thiếu oxy, các bức xạ vũ trụ, chứng viêm tĩnh mạch và nghìn bệnh tật khác.
Cách nay 25 năm, trên một chuyến bay bình thường Paris-Chicago của hãng American Airlines, thình lình người ta yêu cầu một thầy thuốc thăm khám cho một cô nữ sinh trung học 15 tuổi với những triệu chứng kỳ lạ, trong đó cánh tay trái bị yếu đi. Lo ngại một khả năng (và hiếm) đột qụy do vỡ một phình động mạch, người thầy thuốc trẻ người Pháp đã yêu cầu viên chỉ huy chuyển hướng bay về Montréal. Thời gian : 50 phút. Thông báo được thực hiện, và tức thời một đồng nghiệp người Mỹ 60 tuổi, nhảy bật lên từ ghế ngồi, nhào đến, khám sơ sài bệnh nhân và yêu cầu viên phi công tiếp tục lộ trình đến Chicago. Điều này tức thời được thực hiện.
Ngày nay, hàng không thương mãi vận chuyển 2 tỷ hành khách mỗi năm và rất thường nhờ đến các hệ thống điều phối y khoa dưới đất để làm trọng tài, quyết định và giúp đỡ trong những quyết định y khoa, đôi khi đổi hướng máy bay. Air France có một hợp đồng với Samu de Paris từ năm 1972. Delta làm việc với những thầy thuốc cấp cứu của Pittsburg, KLM và Lufthansa có những thầy thuốc riêng của họ, và International SOS, cố vấn (qua trung gian MedAire) 90 công ty hàng không, hoặc 30% giao thương.
Trên các máy bay của Air France, mỗi năm, nhân viên phi hành được đào tạo về môn cứu thương, có một máy khử rung tim (défibrillateur cardiaque), một oxymètre de pouls (để do độ bảo hòa oxy của máu), một hộp dụng cụ y khoa cấp cứu đầy đủ thuốc (với adrénaline, corticoides, thuốc chống đau có tác dụng mạnh, những dung dịch tiêm truyền) và 9 trên 10 chuyến bay có thể trông mong vào sự hiện diện của một thầy thuốc hành khách !
Ít nhất một công ty, Lufthansa, đã thí nghiệm sự truyền xa bằng vệ tinh (télétransmission satellitaire) của một điện tâm đồ, được thực hiện trên một bệnh nhân đang bay ! “ Từ nay đến 4-5 năm nữa, hệ thống này sẽ được phổ biến cho mọi công ty hàng không ”, BS Jannières của Samu Paris đã giải thích như vậy. Trong trường hợp đau ngực cấp tính gợi chẩn đoán nhồi máu cơ tim, đó sẽ là một trợ giúp lớn cho quyết định.
MỘT ĐỔI HƯỚNG BAY TRÊN MỘT TRIỆU HÀNH KHÁCH
Chúng ta đã biết những nguy cơ trên một máy bay đường dài ở độ cao 10.000 m; trước hết là áp lực không khí ở đó thấp hơn so với ở mặt đất (áp lực tương ứng với một độ cao trung bình 2.000m). Những người tình nguyện lành mạnh đã “bay” en caisson trong 20 giờ ở độ cao 2.500m và đã bị tất cả những triệu chứng của căn bệnh cấp tính của miền núi (mal aigu des montagnes). Áp suất oxy động mạch, trong một cabine của máy bay đường dài, giảm từ 95 xuống đến 60 mmHg : nhiều hành khách bị bệnh tim “giới hạn”, những người suy hô hấp, những người thiếu máu, khi đó có nguy cơ bị thiếu oxy tương đối.
Một công trình nghiên cứu, được công bố năm 2007, đã cho thấy rằng 18% những hành khách bị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (viêm phế quản nặng, khí phế thủng), ít nhất có nguy cơ bị một suy hô hấp (détresse respiratoire) trong một chuyến bay. Đối với những hành khách yếu ớt này, Aerospace Medical Association khuyến nghị rằng trước khi bay, họ phải chịu một loại trắc nghiệm “thiếu oxy dưới đất” (test d’hypoxie au sol) để phát hiện những kẻ có nguy cơ mất bù lúc bay. Đối với những người này, British Thoracic Society khuyến nghị cho bổ sung oxy trong lúc bay : hoặc công ty thương mãi để cho hành khách sử dụng một trong các chai oxy được đưa lên máy bay ; hoặc công ty chấp nhận cho các hành khách này được mang theo lên máy bay bình oxy riêng của họ.
Cũng có sự tiếp xúc với các bức xạ vũ trụ (rayonnements cosmiques) : Autorité européenne de l’aviation đòi hỏi rằng các máy bay, bay ở độ cao trên 15.000 m, phải đo lường bức xạ này để cho phép phi công giảm độ cao. Quản trị liên bang hàng không Hoa Kỳ đưa ra những thông báo, báo động về những bức xạ mặt trời có nguy cơ làm cho những chuyến bay thương mại phải chịu tiếp xúc với những cường độ mạnh.
Đối với những hành khách nữ mang thai, thực hiện các chuyến bay là điều không nên làm. Thật vậy, đối với mỗi thai nghén, giới hạn tiếp xúc với các bức xạ mặt trời là 1 millisivert (mSv), hay một chuyến bay kéo dài 15 giờ không ngừng lại khiến một thai nhi phải chịu một tiếp xúc 1 mSv. Đối với các nữ tiếp viên hàng không (hôtesses de l’air) mang thai, họ chỉ đuợc thực hiện những chuyến bay ngắn, ở độ cao thấp, và các công ty phải hoạch định những chuyến bay này để không vượt quá giới hạn mức độ tiếp xúc với các bức xạ vũ trụ.
Có bao nhiêu sự cố xảy ra trên máy bay? Những con số đuợc đưa ra không ăn khớp đối với mỗi công ty, người ta nói 0,03-0,07 sự cố đối với 1.000 hành khách. Cứ mỗi triệu hành khách sẽ có một chuyến bay phải đổi hướng vì sự cố. Samu de Paris vào năm 2004 đã nhận 171 gọi cấp cứu từ các máy bay của Air France và 17 trường hợp phải chuyển hướng bay. Vào năm 2006, Samu đã nhận 200 gọi cấp cứu, đưa đến 17 trường hợp đổi hướng bay. (LE FIGARO 20/2/2009)
6/ UNG THU HỌNG CŨNG LÀ MỘT VẤN ĐỀ GIA ĐÌNH.
Uống rượu quá mức và nghiện thuốc lá làm dễ rất nhiều nguy cơ mắc phải ung thư của thanh quản và hầu. Nhưng thể địa gia đình cũng đóng một vai trò quan trọng. Đó là điều đuợc chứng tỏ bởi một công trình phân tích 12 nghiên cứu, quy tụ 9.000 trường hợp ung thư đầu và cổ và 13.000 người chứng. Các tiền sử bệnh nơi một người anh hay chị, làm gia tăng 70% nguy cơ xuất hiện loại ung thư này. (SCIENCES ET AVENIR 3/2009)
7/ BỆNH ĐỘNG KINH CÓ THỂ XẢY RA 10 NĂM SAU MỘT CHẤN THƯƠNG SỌ.
Neurologie : Một công trình nghiên cứu của Đan Mạch cho thấy rằng một nguy cơ cao mắc phải bệnh động kinh sau chấn thương (épilepsie post-traumatique) vẫn tồn tại 10 năm sau khi bị chấn thương sọ.
Đó là một sự kiện đã được biết từ lâu bởi những thầy thuốc chuyên khoa thần kinh và những phẫu thuật viên của não bộ : những nạn nhân của một chấn thương sọ, dầu đó là một chấn động não đơn thuần (commotion cérébrale simple), một vết thương của não bộ hay một gãy xương sọ, thường bị những cơn động kinh (sau chấn thương) hơn so với dân thường nói chung. Những nguy cơ chính xác là gì? Khoảng thời gian chính xác của nguy cơ này là gì, nhất là đối với các trẻ em nhỏ tuổi và những thiếu niên? Những người trẻ có đề kháng hơn những người lớn tuổi hay không ?nĐể biết điều đó, BS Jakob Christensen và những đồng nghiệp của ông ở bệnh viện Aarhus (Đan mạch), đã thực hiện một công trình nghiên cứu to lớn, được công bố bởi The Lancet. Họ đã nhận diện 1,65 triệu người Đan mạch, sinh giữa năm 1977 và 2002, trong số đó họ đã chọn lọc, nhờ sổ ghi bệnh viện quốc gia (National Register Hospital), 78.572 những người đã bị một chấn thương sọ. Sự xem xét tất cả những hồ sơ y khoa đã cho phép BS Christensen kiểm kê được 17.470 người đã có một chẩn đoán xác định bệnh động kinh (lâm sàng, điện não đồ) và được xác nhận nhờ chụp hình ảnh y khoa.
Nơi 1.017 người trong số những người này, chấn thương sọ đã xảy ra trước lúc bắt đầu bệnh động kinh. Độ nghiêm trọng của chấn thương, khoảng thời gian từ lúc bị chấn thương đến lúc xảy ra các cơn động kinh, đã được ghi nhận một cách tỉ mỉ bởi các nhà nghiên cứu. Như thế họ đã nhận thấy rằng một chấn động não đơn thuần (commotion cérébral simple), được thể hiện bởi sự mất tri giác, hay bởi triệu chứng quên (amnésie), một sự lú lẩn hay sự mất định hướng, thậm chí liệt vận động và cảm giác tạm thời, đã nhân gấp hai lần nguy cơ thứ phát bị một bệnh động kinh.
Khi chấn thương nghiêm trọng hơn, với một đụng dập não (contusion cérébrale) (một “ bleu ” của não) hay một xuất huyết trong sọ (hémorragie intracrânienne), thậm chí một gãy xương sọ, nguy cơ về sau bị các cơn động kinh được nhân lên gấp 7 lần. Ngoài ra, nguy cơ động kinh này, mặc dầu tối đa vào năm đầu sau chấn thương, vẫn còn cao cho đến 10 năm sau tai nạn. Mặt khác, nguy cơ động kinh gia tăng với tuổi tác : nguy cơ này, sau 15 tuổi, đặc biệt cao hơn đối với những nạn nhân bị chấn thương nghiêm trọng. Nguy cơ trung bình cũng hơi cao đối với các phụ nữ (được nhân lên gấp 3) so với đàn ông (được nhân lên gấp 2).
Những bệnh nhân đã phải nằm viện dài ngày sau một chấn thương sọ nghiêm trọng với gãy xương sọ, có một nguy cơ rất cao bị động kinh. Những tiền sử gia đình bị động kinh nơi cha mẹ hay trong gia tộc, nhân lên gấp 6 nguy cơ bị động kinh sau một chấn thương sọ mức độ trung bình và được nhân lên gấp 10 trong trường hợp chấn thương nặng.
Sự chứng minh của công trình nghiên cứu Đan Mạch rất là gây ấn tượng : thật vậy trong quá khứ, nhiều công trình nghiên cứu, quy mô quá nhỏ hay với phương pháp đáng phê phán, đã cho những kết quả mâu thuẫn hay không thể sử dụng được. Đối với G.S Simon Shorvon (Viện thần kinh của University College de Londres), trong một bài xã luận kèm theo bài báo này của tờ Lancet, công trình nghiên cứu của Christensen, do quy mô thực hiện và phương pháp thống kê, là “một công trình có giá trị tham khảo trong lãnh vực này”. Cho mãi đến ngày nay, không có một nhất trí y khoa nào về những gì phải làm để ngăn ngừa bệnh động kinh sau chấn thương. “Không có một điều trị dự phòng hiệu quả nào hiện diện và các thử nghiệm của những thuốc phòng ngừa đã gây thất vọng.” Cánh đồng nghiên cứu này đang bị bỏ hoang vì thiếu những thông tin khoa học đáng tin cậy, cũng như thiếu kinh phí. “Chúng tôi rất thiếu các phương tiện để thực hiện những công trình nghiên cứu thăm dò trong lãnh vực này”, BS Colette Gougeon, khoa ngoại thần kinh của bệnh viện Henri-Mondor (Créteil) đã phát biểu như vậy. Chúng tôi cũng có thể nói thêm rằng, trái với Đan Mạch có một sổ ghi bệnh viện quốc gia, Pháp không có một công cụ dịch tễ nào có thể dùng được và có quy mô cần thiết cho loại nghiên cứu này. (LE FIGARO 27/2/2009) (LE JOURNAL DU MEDECIN 3/3/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr114.htm (TSYH 114, bài số 6)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr62.htm (TSYH 62, bài số 4).
8/ CẮT BỎ SÙI VÒM HỌNG KHÓ HƠN Ở CÁC BỆNH NHÂN BÉO PHÌ
Nạo sùi vòm đọng (adénoidectomie hay ablation des végétations) là một can thiệp thông thường không cần nhập viện lâu dài. Nhưng không phải luôn luôn như vậy nơi những trẻ em tăng thể trọng (surpoids) hay bị chứng béo phì. Theo các dữ kiện thu được nơi gần 2.000 bệnh nhân, việc sử dụng đến soi thanh quản (laryngoscope) hay mặt nạ thông khí (masque à ventilation) khi đó khó hơn và nguy cơ tắt nghẽn các đường khí quan trọng hơn lúc gây mê. Thời gian nhập viện cũng có khuynh hướng dài hơn. (SCIENCES ET AVENIR 3/2009)
9/ MỘT CHẤT CHỈ DẤU TÍNH HUNG HÃN CỦA UNG THƯ TIỀN LIỆT TUYẾN TRONG NƯỚC TIỂU
Cancérologie : sarcosine cho phép nhận diện các khối u cần một điều trị mạnh.
3 nhà nghiên cứu của đại học Ann Arbor ở tiểu bang Michigan đã khám phá một chất, sarcosine, dễ định lượng trong nước tiểu, cho phép phân biệt, nơi người đàn ông, bệnh phì đại tiền liệt tuyến (hypertrophie de la prostate) đơn thuần với một ung thư khu trú hay di căn của cơ quan này. Những công trình quan trọng này, có thể đưa đến sự hiệu chính một xét nghiệm cho phép giúp các thầy thuốc phân biệt các khối u có tiến triển chậm với các khối u cần một điều trị tức thời và mạnh.Tạp chí khoa học của Anh Nature đã không lầm về điều đó : báo đã dành 35 trang và một bài xã luận cho khám phá quan trọng này.
Ann Sreekumar, người điều khiển công trình, đã sử dụng, với nhóm nghiên cứu của ông, một loại máy rất có hiệu năng để phân tích hàng ngàn các chất được lấy trong 262 mẫu nghiệm mô, trong các phân tích nước tiểu và trong máu được lấy từ những bệnh nhân bị ung thư tiền liệt tuyến hay trái lại không bị bệnh này. Những máy sắc ký và phổ kế này cho phép phân tách và nhận diện thành phần nguyên tử của hàng ngàn chất, trong một thời gian kỷ lục, dưới sự kiểm soát của các máy vi tính mạnh.
Trong đợt đầu, các nhà nghiên cứu đã nhận diện 60 phân tử hiện diện trong nước tiểu của các bệnh nhân bị ung thư khu trú hay di căn của tuyến tiền liệt và vắng mặt trong nước tiểu của những bệnh nhân có một tuyến tiền liệt bình thường. Trên 60 “ profil ” chuyển hóa này, chỉ có 6 (trong đó có sarcosine) là có một nồng độ càng ngày càng cao khi người ta đi từ những ung thư ít hung hãn đến những ung thư xâm nhập và di căn nhất. Và trong số 6 ứng viên này, chính sarcosine là có mối liên quan tốt nhất với mức độ nghiêm trọng của bệnh.
Sarcosine, xuất phát từ chuyển hóa của một acide aminé, glycine, được tìm thấy với nồng độ ngày càng quan trọng suốt trong quá trình tiến triển của ung thư tiền liệt tuyến, và suốt trong sự xuất hiện của các di căn. Sarcosine cũng đã được tìm thấy trong những dòng tế bào người của ung thư tiền liệt tuyến, được bảo quản trong những máy đông lạnh của các phòng thí nghiệm nghiên cứu. Và khi các nhà nghiên cứu đã thêm sarcosine vào trong canh cấy những tế bào tiền liệt tuyến người bình thường, những tế bào này đã trở thành ung thư và đã xâm chiếm các hộp canh cấy ! Toàn bộ các yếu tố này khiến nghĩ rằng sarcosine đóng một vai trò chủ yếu trong sự biến đổi và tính hung hãn của những tế bào ung thư.
Phải nói rằng cuộc tranh luận dữ dội từ nhiều năm nay giữa các thầy thuốc chuyên khoa tiết niệu và các nhà dịch tễ học về việc điều tra phát hiện ung thư này, đúng là phát xuất từ hiệu năng tồi của những xét nghiệm phát hiện đang được sử dụng hiện nay. Xét nghiệm được thực hiện nhất, đo nồng độ PSA (antigène prostatique spécifique), đã được thực hiện năm qua trên 36% những người đàn ông Pháp và 85% của 2,7 triệu xét nghiệm đã được kê đơn bởi các thầy thuốc đa khoa.
Một chất chỉ dấu khác được gọi là PCA3, mới đây được khám phá ở National Cancer Institute (Bethesda, Mariland), cũng có thể định lượng được trong nước tiểu, cũng như PAS, cho phép tiên đoán ai sẽ bị ung thư tiền liệt tuyến và ai không. Một khi một ung thư tiền liệt tuyến đã được chứng tỏ, vấn đề còn lại là phải biết xem ung thư này sẽ nằm yên (chỉ cần phải theo dõi mà thôi) hay nó sẽ trở nên hung hãn và khi đó sẽ biện minh cho một chiến lược điều trị. Chính sarcosine sẽ đóng vai trò phát hiện sự tiến triển của ung thư này và việc đo nồng độ trong nước tiểu của chất chỉ dấu này là dễ thực hiện.
Đối với John Wei, thầy thuốc khoa tiết niệu của nhóm nghiên cứu Ann Arbor, “ Chúng ta có thể nghĩ đến việc kết hợp các chất chỉ dấu phát hiện hiện nay và sự đo nồng độ của sarcosine trong nước tiểu, để thiết lập một phân tích theo từng cá nhân về mối nguy cơ đối với mỗi bệnh nhân. Việc làm sinh thiết của tuyến tiền liệt, tế nhị, gây lo lắng và đớn đau, một ngày nào đó có sẽ được thay thế bởi một số các xét nghiệm? “ Thật là tuyệt vời, nhưng chúng ta chưa đến giai đoạn đó; đó là một khả năng có thể nhắm đến trong tương lai” (LE FIGARO 12/2/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr95.htm (TSYH 95, bài số 6)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr93.htm (TSYH 93, bài số 7)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr64.htm (TSYH 64, bài số 8).
10/ VITAMINE C : NHỮNG TÁC DỤNG CHỐNG UNG THƯ
Những thử nghiệm khác nhau trên động vật, nhất là được thực hiện ở Viện Ung Thư Quốc Gia, Bethesda (Hoa Kỳ), đã cho thấy rằng vitamine C, cho với liều lượng mạnh, làm giảm kích thước của những loại ung thư khác nhau và kềm hãm sự phát triển của chúng. Những công trình nghiên cứu trên người, trong đó vitamine C được cho bằng đường tĩnh mạch, liên kết với hóa học liệu pháp, đang được tiến hành. Vitamine C ức chế các gène cần thiết cho sự tăng sinh của những tế bào ung thư. (PARIS MATCH5/3-11/3/2009)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (13/3/2009)

Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com


>>>back>>>

Tin Mới Y Học