 |
Thời
Sự Y Học số 119
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ CUỘC LUẬN CHIẾN VỀ MỐI
LIÊN HỆ GIỮA UNG THƯ VÀ SỰ TIÊU THỤ RƯỢU
Các chuyên gia khẳng định: việc uống rượu đều đặn là việc không nên làm.
Cuốn sách mỏng của Viện ung thư quốc gia và của Tổng giám đốc y tế, trong
tháng qua đã giải thích rằng ngay việc uống một ly rượu mỗi ngày cũng
làm gia tăng một ít nguy cơ bị ung thư, đã gây nên sự la ó ầm ĩ. Những
nhà làm rượu, những người trồng nho, và ngay cả một vài thầy thuốc đã
lâm chiến chống lại tài liệu này và xác nhận rằng sự tiêu thụ rượu với
mức độ thấp là có lợi, đặc biệt là chống lại bệnh tim mạch. Ngay cả một
cuốn sách mỏng nhằm nói chống lại cũng đang được sửa soạn để phát hành.
“ Chủ đề này đã bị hiểu sai, giáo sư Dominique Maraninchi, tổng giám đốc
viện quốc gia ung thư, đã giải thích như vậy. Chúng tôi đã muốn đưa ra
một thông tin. Chúng tôi nói rằng, về rượu, ngưỡng tiêu thụ không gây
nguy cơ, nghĩa là ngưỡng trong đó người ta không nhận thấy tác dụng có
hại về mặt ung thư, là rất thấp. Những lời phát biểu của chúng tôi không
phải là để cấm đoán bất cứ điều gì, nhưng chỉ là những thông tin.” Đối
với giáo sư Michel Reynaud, “ tất cả vấn đề là xem liệu chúng ta có muốn
có một cuộc sống với một nguy cơ số không hay là không. Nếu những lợi
ích của một lượng nhỏ rượu vang trên các bệnh tim mạch vẫn không chắc
chắn, trong khi những nguy cơ bị ung thư được xác lập khá rõ, thì việc
tiêu thụ rượu vẫn có những lợi ích khác. Uống rượu đặc biệt cho phép con
người ta cảm thấy thoải mái. Uống rượu làm dễ sự giao tiếp trong đời sống
xã hội của mình. Ngược lại, điều chắc chắn là, những liều lượng nhỏ rượu,
được tiêu thụ một cách đều đặn, là nguy hiểm hơn những liều nhỏ thuốc
trừ sâu hay còn nguy hiểm hơn cả các antennes-relais ”. Nguy cơ của những
liều lượng nhỏ rượu cũng được liên kết với một tố bẩm cá nhân, với sự
liên kết với những độc chất khác như thuốc lá..
Sự phân tích các mối liên kết giữa ung thư và rượu được căn cứ trên những
điều tra dịch tễ quy mô lớn, so sánh trên những nhóm người với số lượng
to lớn, tỷ lệ mắc phải ung thư với những thói quen tiêu thụ rượu. Những
nghiên cứu thí nghiệm cho phép kiểm tra tính đúng đắn của những kết luận
này, bằng cách xem xét tác dụng của rượu lên các canh cấy tế bào, lên
các mô hình động vật.
MỘT SỰ VỮNG VÀNG KHÔNG THỂ TRANH CÃI
Năm 2007, Viện ung thư quốc gia đã phát hành một báo cáo hoàn chỉnh về
vấn đề này, xem xét mức độ nguy cơ tùy theo lượng rượu được uống vào.
Các kết quả không phải là kết quả của một điều tra, nhưng là tổng số của
nhiều công trình nghiên cứu khoa học trên thế giới. Điều này mang lại
một sự vững chắc không thể tranh cãi được. Mặc dầu vài con số khiến những
giải thích dị biệt bởi vì dịch tễ học thường để tồn tại những vùng không
rõ ràng. Bản báo cáo này, được biên soạn bởi một nhóm chuyên gia, dầu
sao đảm bảo một cách rõ ràng rằng “ việc tiêu thụ rượu đều đặn là không
nên. Sự gia tăng nguy cơ là đáng kể ngay cả đối với một sự tiêu thụ mức
độ trung bình, với một nguy cơ càng cao nếu sự tiêu thụ càng cao. ” Ngay
cả đối với những lợi ích tim mạch, mối liên hệ cũng không rõ ràng lắm.
Trong những năm 1980, rượu vang với mức tiêu thụ thấp đã được xem là một
yếu tố bảo vệ. Ngày nay, những điều chắc chắn này đã hơi bị tan biến đi.
Vài chuyên gia, nhưng không phải là tất cả, cho rằng những kết quả này
là thiên lệch. Từ nay uống rượu với mức độ thấp chỉ có lợi ích là cho
cảm giác khoái trá và cảm giác dễ chịu. Trong thời buổi của chúng ta hiện
nay, điều đó không phải là không đáng kể. (LE FIGARO
25/3/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr115.htm
(TSYH số 115, bài số 3)
2/ SỰ GIẬN DỮ, LÒNG THÙ HẬN VÀ
NGUY CƠ TIM MẠCH
Một phân tích méta đã cho thấy rằng những cảm xúc như sự giận dữ và lòng
thù hận được liên kết với một sự gia tăng 19% nguy cơ bị những biến cố
động mạch vành nơi những người lành mạnh và 24% nơi những người đã bị
những vấn đề động mạch vành. Mối liên hệ xuất hiện rõ hơn nơi những người
đàn ông. Đó là kết luận của một duyệt xét các tư liệu, được thực hiện
bởi Yoichi Chida và Andrew Steptoe (Unversity College de Londres), về
sự xuất hiện những biến cố động mạch vành nơi những người lành mạnh và
nơi những người đã có những vấn đề động mạch vành.
Những công trình nghiên cứu, được tiến hành trên 80.000 người ở Úc châu,
châu Á, châu Âu và Hoa Kỳ. Các tác giả đã chứng nhận rằng những cảm xúc
như sự giận dữ và lòng thù hận được liên kết với một nguy cơ bị những
biến cố động mạch vành cao hơn nơi những người lành mạnh và có một tiên
lượng xấu nơi những người vốn đã có những vấn đề động mạch vành. Trong
một bài xã luận đi kèm bài báo được đăng tải trong Journal of the American
College of Cardiology, Johan Denollet và Susanne S.Pedersen (Tilburg,
Hoà Lan) viết rằng công trình nghiên cứu này cho thấy những ý nghĩa lâm
sàng quan trọng bởi vì nó ủng hộ giả thuyết cho rằng những yếu tố tâm
lý âm tính can thiệp trong sự phát triển của một bệnh lý động mạch vành.
Do đó những triệu chứng giận dữ và thù hận phải được xét đến một cách
nghiêm chỉnh. Theo Denollet, điều này muốn nói rằng các thầy thuốc phải
gợi ý với các bệnh nhân bị những cảm xúc quá mức như thế, phải nên theo
một liệu pháp hành vi (thérapie comportementale). (LE
JOURNAL DU MEDECIN 24/3/2009)
3/ ĂN ÍT LÀM GIẢM SỰ TĂNG
TRƯỞNG CỦA CÁC KHỐI U
Từ một thế kỷ nay, người ta đã biết rằng sự hạn chế ăn uống làm giảm sự
tăng trưởng của vài khối u, nhưng người ta không biết lý do vì sao : các
nhà nghiên cứu, công bố công trình nghiên cứu trong Nature số tuần này,
đã thành công phát hiện vai trò của một enzyme, PI3K (phosphatidylinositol
3-kinase), đóng vai trò trọng yếu trong sự tăng sinh của các tế bào ung
thư, bởi vì sự hoạt hóa của enzyme này kềm hãm những tác dụng của một
chế độ ăn uống ít hơn. Vài khối u (đại tràng và hai dạng ung thư vú) giảm
sự tăng trưởng dưới tác dụng của sự thu giảm chế độ ăn uống, trong khi
những khối u khác (tiền liệt tuyến, não bộ và một dạng ung thư vú) không
nhạy cảm với tác dụng này. “ Bằng cách điều biến sự hoạt hoá của PI3K,
chúng ta có thể chuyển biến một khối u đề kháng với sự hạn chế ăn uống
thành một khối u nhạy cảm với nó ” , các nhà nghiên cứu đã xác nhận như
vậy. (LE SOIR 13/3/2009)
4/ CÀ PHÊ VÀ BỆNH ALZHEIMER
Những người uống cà phê có mức độ, làm giảm 65% nguy cơ phát triển chứng
sa sút trí tuệ và bệnh Alzheimer. Cà phê được biết là nguồn thực phẩm
chính của caféine, phân tử mà các tác dụng lên hệ thần kinh đã được nghiên
cứu từ lâu. Người ta thường tìm kiếm tác dụng kích thích tức thời của
cà phê để chống lại sự mệt mỏi. Trái lại cà phê có thể làm khó ngủ. Nhưng
những tác dụng về lâu về dài của cà phê lên hệ thần kinh trung ương vẫn
còn không được biết đến nhiều. Sự thoái biến diễn ra chậm và dần dần của
hệ thần kinh trung ương có liên quan trong chứng sa sút trí tuệ, mà thể
thông thường nhất là bệnh Alzheimer. Bệnh Alzheimer hiện gây bệnh cho
13 triệu người trên thế giới.
Xét vì sự lão hóa của dân số và sự vắng bóng của một phép điều trị thực
sự, người ta có thể dự kiến một sự gia tăng của các trường hợp sa sút
trí tuệ. Những công trình nghiên cứu trước đây đã gợi ý rằng sự tiêu thụ
cà phê khả dĩ có một tác dụng lợi ích chống lại sự xuất hiện của bệnh
Alzheimer. Tuy nhiên, sự phát triển của chứng sa sút trí tuệ này bắt đầu
nhiều năm trước khi xuất hiện những dấu hiệu lâm sàng. Do đó, tác động
của chế độ ăn uống lên tiến triển của bệnh phải được xét đến khá sớm trước
khi xuất hiện bệnh. Và chính đó là một con chủ bài quan trọng của một
công trình nghiên cứu, được thực hiện bởi Đại học Kuopio (Phần lan), Viện
Karolinska của Stockholm (Thụy Điển), và Viện Y Tế công cộng Phần Lan.
Các nhà nghiên cứu đã theo dõi việc tiêu thụ cà phê và trà trong 21 năm,
đồng thời mỗi 5 năm cập nhật các thói quen của những người tiêu thụ. Sau
đó, các nhà nghiên cứu đã thăm khám lại 1.409 người tuổi từ 65 đến 79
tuổi, để chẩn đoán những trường hợp sa sút trí tuệ. Các kết quả được công
bố trong Journal of Alzheimer’s Disease.
MỘT SỰ TIÊU THỤ CÓ MỨC ĐỘ LÀM GIẢM CÁC NGUY CƠ
BỊ SA SÚT TRÍ TUỆ
Các dữ kiện tiêu thụ cà phê được xếp thành 3 nhóm : những người uống ít
(0-2 tách mỗi ngày), những người uống mức trung bình (3-5 tách) và những
người uống nhiều (trên 5 tách). Đối với trà, các tác giả đã sắp xếp những
người tham gia thành những người uống (ít nhất một tách) và không uống
(dưới một tách mỗi ngày).
Phân tích các kết quả cho thấy rằng sự tiêu thụ cà phê trong thời kỳ theo
dõi được liên kết với một nguy cơ phát triển sa sút trí tuệ thấp hơn.
Những lợi ích lớn nhất xuất hiện đối với những người uống cà phê mức trung
bình : nơi những người này, nguy cơ phát triển sa sút trí tuệ hay bệnh
Alzheimer giảm 65%, so với những người không uống hoặc uống ít cà phê.
Trái lại, đối với trà, cũng chứa caféine, nhưng với số lượng thấp hơn,
sự việc uống hoặc không uống đã không có ảnh hưởng lên nguy cơ sa sút
trí tuệ (có lẽ sự tiêu thụ không đủ quan trọng). Các tác giả xác nhận
rằng sự khám phá của họ phải được xác nhận bởi những công trình nghiên
cứu khác, nhưng nó đã mở ra cánh cửa của một khả năng can thiệp bằng chế
độ ăn uống để làm biến đổi nguy cơ sa sút trí tuệ. (LE
SOIR 16/3/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr118.htm
(TSYH số 118, bài số 6)
5/ HÚT THUỐC LÚC CÒN TRẺ LÀM GIA
TĂNG NGUY CƠ MẮC BỆNH XƠ CỨNG RẢI RÁC
Vào đầu những năm 80, các nhà khoa học nghĩ rằng bệnh xơ cứng rải rác
(sclérose en plaques) có thể được gây nên bởi các yếu tố (cho mãi đến
khi đó vẫn không được biết) can thiệp vào giai đoạn sớm của đời sống.
Mặt khác, một công trình nghiên cứu đã phát hiện một mối liên hệ giữa
thuốc lá và bệnh xơ cứng rải rác.
Joseph Finkelstein (John Hopkins University School of Medicine, Baltimore)
và các cộng sự viên đã muốn biết xem việc hút thuốc ở một lứa tuổi tương
đối trẻ có thể gây nên bệnh hay không. Cộng tác với Veterans Affairs MS
Center for Excellence, họ đã phân tích một mẫu nghiệm đại diện, gồm 30.092
người đã tham gia vào công trình nghiên cứu 2002 National Health Interview
Survey. Công trình nghiên cứu của họ sẽ được trình bày ở hội nghị hàng
năm lần thứ 61 của Viện Hàn Lâm Thần Kinh Học Hoa Kỳ, sẽ diễn ra ở Seattle
từ 25 tháng 4 đến 2 tháng 5 năm 2009.
Các tác giả đã chứng thực rằng, trong nhóm những người không bị bệnh,
19,3% những người tham dự đã hút thuốc trước 17 tuổi. Trong nhóm những
người bị xơ cứng rải rác, con số này lên đến 32 ,6%. Sau khi điều chỉnh
đối với giống tính, trình độ học vấn và những yếu tố khác khả dĩ ảnh hưởng
lên nguy cơ bị xơ cứng rải rác, họ đã nhận thấy rằng những người hút thuốc
sớm có 2,7 lần nguy cơ nhiều hơn phát triển bệnh. Điều này không xảy ra
nơi những người chỉ bắt đầu hút thuốc sau năm 17 tuổi.
Theo các tác giả, thuốc lá gây thiệt hại lên các mô, làm dễ phản ứng viêm
và ảnh hưởng lên hệ miễn dịch. Có lẽ chính những tác dụng này giải thích
tại sao hút thuốc lúc còn trẻ được liên kết với một nguy cơ phát triển
bệnh xơ cứng rải rác. (LE JOURNAL DU MEDECIN 6/3/2009)
6/ PARKINSON VÀ CÁC THUỐC
MA TÚY : CÙNG NHỮNG NEURONE.
Striatum, một trong những vùng của não bộ, đóng một vai trò chủ chốt trong
chứng nghiện ma túy và bệnh Parkinson.
Mỗi năm, khoảng 9 triệu người ở châu Âu được điều trị vì một vấn đề phụ
thuộc chất ma túy (dépendance aux drogues) (rượu và/hoặc chất ma túy bất
hợp pháp). “ Điều trị theo dõi gây tổn phí cho Cộng đồng 57 tỉ euros ”,
ULB (Université Libre de Bruxelles) đã chỉ rõ như vậy. “Bệnh Parkinson
về phần mình gây bệnh cho 1,2 triệu người và tổn phí 11 tỉ Euro mỗi năm”,
các nhóm nghiên cứu của Alban de Kerchove d’Exaerde và của Laboratoire
de neurophysiologie của Đại học Y Khoa đã xác nhận như thế. Hai nhóm nghiên
cứu này vừa thực hiện một tiến bộ đáng chú ý về hai căn bệnh này. Thật
vậy họ đã phát hiện vai trò bất ngờ của một nhóm tế bào thần kinh trong
chứng phụ thuộc chất ma túy và trong sự kiểm soát vận động (bệnh Parkinson).
Công trình nghiên cứu của họ được công bố trong tạp chí Nature Neuroscience.
“Sự phụ thuộc vào các chất ma túy và bệnh Parkinson lần lượt có liên quan
đến một sự thặng dư quá mức hay một sự thiếu hụt của chất dẫn truyền thần
kinh dopamine, các nhà nghiên cứu đã xác nhận như thế. Dopamine chủ yếu
được phóng thích trong một vùng của não bộ (striatum), có liên hệ đồng
thời trong sự khen thưởng (récompense), nghĩa là trong sự phụ thuộc chất
ma túy, và trong sự kiểm soát vận động, nghĩa là trong bệnh Parkinson.”
Vùng này được cấu tạo chủ yếu bởi hai nhóm neurones, mà các vai trò lần
lượt của chúng đến nay vẫn còn được bàn cãi. Để biết rõ hơn về vấn đề
này, các nhà nghiên cứu của Phòng thí nghiệm sinh lý thần kinh đã phá
hủy một trong hai nhóm neurone này trong một mô hình chuột. Như thế họ
đã chứng minh in vivo rằng một trong hai nhóm neurone này, các neurones
striatopallidaux, cản hoạt động vận động cũng như cản sự ưa thích hơn
(préférence) và sự ghi nhớ (mémorisation) gây nên do sự tiêu thụ chất
ma túy.
Nói một cách khác, các chú chuột không có nhóm neurone này sẽ có một sự
gia tăng hoạt động vận động và, một cách bất ngờ, chúng có một sự ưa thích
lớn hơn và trong một thời gian lâu hơn, đối với nơi mà chúng nhận chất
ma túy. Trong lúc phát hiện vai trò bất ngờ của nhóm neurone này, các
nhà nghiên cứu mở ra một triển vọng điều trị mới : hoặc là kích thích
nhóm neurone này trong trường hợp phụ thuộc chất ma túy, hoặc ức chế chúng
trong trường hợp bệnh Parkinson. (LE SOIR 9/3/2009)
7/ VỚI NGÀY CÀNG NHIỀU NHỮNG CHUYẾN
BAY ĐƯỜNG DÀI, TỶ LỆ MẮC CÁC BỆNH LÝ NGÀY CÀNG BAY CAO
Hiện nay, số hành khách hàng không đạt gần 2 tỉ mỗi năm. Các nguy cơ huyết
khối nghẽn tĩnh mạch (thromboembolie veineuse) trong các chuyến bay đường
dài, sự tiếp xúc với các bức xạ vũ trụ, những tác dụng do lệch giờ giấc
và những thiếu sót về chất lượng khí trong các cabine, kết hợp lại để
làm gia tăng những vấn đề sức khỏe liên kết với những chuyến không hành.
Từ nay, vấn đề năng lực vật lý để thực hiện một chuyến không hành được
đặt ra một cách gay gắt, đứng trước số lượng rất quan trọng các cá nhân,
các khách du lịch hay những hành khách đi công tác ; Các hành khách ngày
càng ý thức những vấn đề liên quan với các chuyến bay. Các thăm dò cho
thấy rằng 95% các cá nhân vốn có những vấn đề sức khỏe, thích được nhận
nhiều lời khuyên về y tế trước khi bay.
ĐỘ CAO TỪ 1524 ĐẾN 2438 m
Đâu là những vấn đề sức khỏe liên kết với những chuyến bay thương mãi?
Danielle Silverman và Mark Gendreau (Hoa Kỳ) đã điểm lại các tư liệu y
học trong The Lancet.
- Áp suất bên trong cabine : sự điều áp (pressurisation) tương ứng với
một độ cao 1524 đến 2438m, điều này khả dĩ gây nên những triệu chứng của
bệnh ở độ cao (mal de l’altitude) ngay sau 3 giờ bay. Một điều áp ở cao
độ 2.438 m làm giảm Pa02 từ 95 mmHg xuống còn 60, với một sự giảm 3-4%
độ bảo hòa của oxyhémoglobine; các hành khách bị bệnh phổi tắc nghẽn mãn
tính (BPCO) có thể bị một suy hô hấp nhẹ trong một chuyến bay.
Sau một phẫu thuật quan trọng, nên khuyên bệnh nhân phải đợi 2 tuần trước
khi bay vì lẽ khi áp suất bị giảm, sẽ có sự nỡ của chất khí (expansion
des gaz) bên trong cơ thể.
- Chúng ta không nghĩ đầy đủ đến sự kiện là một tình trạng thiếu oxy hơi
giảm áp (une hypoxie légèrement hypobare) làm gia tăng độ keo (viscosité)
của máu và rằng sự mất nước cũng làm gia trọng độ keo này. Sự phòng ngừa
huyết khối (thromboprophylaxie) dựa trên những lời khuyên bỏ rượu, bỏ
caféine, tránh sự bất động, với chỉ định dùng HBPM (héparine trọng lượng
phân tử thấp) đối với những hành khách có nguy cơ ở mức độ vừa phải và
đã không sử dụng thuốc kháng đông một cách thường quy. Việc sử dụng bas
de contention thường hữu ích.
NHỮNG BỨC XẠ MẶT TRỜI
- sự tiếp xúc với các tia vũ trụ, nghĩa là những tia xuất phát từ hệ mặt
trời, được liên kết với các hạt nhỏ (particules) của sưởi ấm mặt trời.
Nhiều ung thư đã được liên kết với các tia vũ trụ (vú, da, u hắc tố) và
những lời khuyến nghị đã được đưa ra nhằm giới hạn việc tiếp xúc của các
nhân viên phi hành.
Những nghiên cứu về vấn đề này mãi đến nay không cho phép xác định mối
nguy cơ. Tuy nhiên, Cơ quan quản trị hàng không Hoa Kỳ khuyến nghị rằng
các phụ nữ có thai (nhân viên phi hành hay hành khách) nên tìm kiếm trên
Internet những thông tin phát xuất từ hệ báo động về những bức xạ mặt
trời trước khi bay để không vượt quá giới hạn 1mSv (millisievert).
- Sự chênh lệch giờ giấc (décalage horaire hay jet lag), được liên kết
với sự bất đồng bộ của các đồng hồ sinh học. Những loại thuốc khác nhau
đã được đề nghị, nhưng mélatonine vẫn là điều trị chuẩn. Một phân tích
méta 10 công trình nghiên cứu (Cochrane) đã kết luận rằng uống 0,5 đến
5mg vào lúc ngủ trước khi đến, có hiệu quả làm giảm những cảm giác gây
ra do sự thay đổi múi giờ.
- Các bệnh nhiễm trùng : việc gò bó trong những khoảng không gian giới
hạn, trong những khoảng thời gian kéo dài, làm dễ sự phát tán của những
tác nhân nhiễm khuẩn. Từ năm 1946, những trận dịch đã được liên kết với
các hành khách hàng không như bệnh đầu mùa, bệnh lao, bệnh cúm, bệnh sởi,
SRAS, các viêm ruột do siêu vi trùng.
Bây giờ các công ty hàng không sử dụng những máy lọc có hiệu quả cao để
đổi mới hơn 50% không khí của cabine. Nguy cơ bị truyền bệnh trên máy
bay được giới hạn vào những người ngồi gần một bệnh nhân, khoảng cách
dưới hai hàng ghế. Người ta thiếu các dữ kiện về quy mô của các sự cố
y khoa xảy ra trong các máy bay. Nhưng hầu hết đều không đáng kể và liên
hệ đến những người trên 70 tuổi. (LE JOURNAL DU MEDECIN
3/3/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr117.htm
(TSYH 117, bài số 5)
8/ TIM ĐẬP CHẬM HƠN KỀM HÃM NHỒI
MÁU CƠ TIM
Làm chậm lại một cách hiệu quả tần số của những người bị bệnh tim, cho
phép tránh được một nhồi máu thứ hai. Đó là kết luận của công trình nghiên
cứu Beautiful mới được trình bày ở Hiệp hội tim châu Âu. Công trình nghiên
cứu cho thấy rằng việc cho thêm một loại thuốc, ivabradine, một thứ thuốc
chỉ tác dụng lên tần số tim, cho phép làm giảm 36% nguy cơ tim mạch nơi
những người có bệnh động mạch vành được phát hiện. Hoặc khoảng 2 triệu
người ở Pháp, G.S Yves Cottin, trưởng khoa tim của CHU Dijon đã xác nhận
như vậy. Người ta đã biết rằng một tần số tim trên 70 đập /phút làm gia
tăng 46% nguy cơ nhồi máu cơ tim. Thế mà, ivabradine có một cơ chế tác
dụng phức tạp, chỉ tác động lên tham số của tần số. Đó là chất ức chế
dòng Na và K đầu tiên, dòng được gọi là khử cực (courant de dépolarisation),
được ghi nơi những tế bào tim. Được thương mãi hóa ở Pháp dưới tên Procolaran,
tuy nhiên thuốc không được sử dụng nơi những người có tần số tim dưới
70 đập mỗi phút. Cần ghi nhận rằng việc đo tần số này, dầu chỉ là một
động tác đơn giản, thế mà không phải luôn luôn được thực hiện bởi các
thầy thuốc. (SCIENCES ET AVENIR 3/2009)
9/ CHẨN ĐOÁN CỦA UNG THƯ BUỒNG
TRỨNG : LỢI ÍCH ĐƯỢC CHỨNG TỎ CỦA NGOẠI KHOA SOI Ổ BỤNG (COELIOCHIRURGIE)
G.S Michel Canis, thầy thuốc chuyên khoa phụ sản của CHU Clermont-Ferrand,
bình luận về những lợi ích của kỹ thuật vi xâm nhập này, được trình bày
nhân dịp hội nghị chuyên đề vừa qua của Viện hàn lâm ngoại khoa quốc gia.
Hỏi : Tỷ lệ mắc bệnh của ung thư buồng trứng (cancer
de l’ovaire) là gì ?
Michel Canis : Ung thư này không xảy ra thông thường. Ở Pháp, người ta
thống kê được 4500 trường hợp mỗi năm, và dưới 5% trong số này có một
yếu tố di truyền. Phần lớn được chẩn đoán vào một giai đoạn muộn bởi vì
chúng tiến triển một cách thầm lặng. Khi những triệu chứng được biểu hiện,
như là những cơn đau bụng hay một sự gia tăng thể tích bụng, thì bệnh
đã phát triển nhiều rồi.
Hỏi : Xét nghiệm nào cho phép chẩn đoán một khối u buồng
trứng ?
Michel Canine : Hiện nay không có chương trình phát hiện ung thư buồng
trứng. Xét nghiệm thông thường nhằm phát hiện ung thư buồng trứng là siêu
âm (échographie). Nhưng thông thường nhất là do tình cờ mà chúng ta khám
phá ra nó.
Hỏi : Đối với loại ung thư này, mức độ tin cậy của siêu
âm là gì ?
Michel Canine : Nhờ xét nghiệm chụp ảnh này, ta có thể thấy rõ một khối
u buồng trứng (masse ovarienne), nhưng siêu âm không cho phép chẩn đoán
tính chất hiền tính hay ác tính. Tuy nhiên xét nghiệm này cho vài yếu
tố định hướng : khối u có thể là dịch (liquide), rắn (solide) hay nửa
dịch nửa rắn (mi-liquide mi-solide). Khi khối u là dịch, có 99% khả năng
là chúng hiền tính. Khi khối u nửa dịch nửa rắn, nguy cơ ung thư là 40%
đến 50%. Khi khối u là rắn, nguy cơ hạ xuống 20%.
Hỏi : Làm sao đảm bảo một cách dứt khoát về tính chất
của khối u ?
Michel Canine : Bằng ngoại khoa soi ổ bụng (chirurgie coelioscopique),
sẽ cho phép thấy buồng trứng và biết được lấy đi bằng cách nào để khám
dưới kính hiển vi (phân tích mô học). Vấn đề là, mãi cho đến ngày nay,
kỹ thuật này đã không được sử dụng nhiều vì người ta e ngại một nguy cơ
làm lan tràn (risque de dissémination). Thế mà, nguy hiểm này có thể hoàn
toàn tránh được, khi động tác giải phẫu được thực hiện một cách nghiêm
túc.
Hỏi : Những hậu quả của việc không sử dụng soi ổ bụng
(coelioscopie) để chẩn đoán là gì ?
Michel Canine : Vài bệnh nhân, mà thương tổn thật ra là lành tính, đã
phải chịu một cách hệ thống phẫu thuật mổ bụng cổ điển (laparotomie classique
à ventre ouvert), với một đường xẻ thẳng đứng 10 cm (được thực hiện trong
trường hợp xác nhận ung thư) thay vì chỉ cần một ngoại khoa vi xâm nhập
(chirurgie mini-invasive).
Hỏi : Chẩn đoán bằng ngoại khoa soi ổ bụng (coeliochirurgie)
là gì ?
Michel Canine : Can thiệp diễn ra dưới gây mê tổng quát và gồm nhiều giai
đoạn. 1. Thầy thuốc bơm phồng bụng với thán khí (gaz carbonique), làm
căng xoang bụng. 2. Qua một lỗ nhỏ 10 mm đường kính, một trocart được
đưa vào. Trong trocart này một minicamera sẽ được chuồi vào, cho phép
chiếu phẫu trường lên trên một màn ảnh. 3. 4 lỗ nhỏ khác đường kính 5mm
được thực hiện để phẫu thuật viên có thể đưa dụng cụ ngoại khoa vào (đường
kính 5mm). 4. Phẫu thuật viên xem xét ổ bụng và trích lấy chất dịch. 5.
Nhà phẫu thuật lấy đi hoàn toàn khối u ; khối u này được đặt trước hết
trong một túi nội soi (sac endoscopique) để tránh mọi nguy cơ làm lan
tràn. Khối u được lấy ra và được thăm khám tại chỗ với kính hiển vi bởi
nhà chuyên khoa mô học. Nếu sự khám xét này không phát hiện ác tính, phẫu
thuật viên đóng lại các vết mổ. Bệnh nhân sẽ ở lại bệnh viện trong 48
giờ và sẽ cảm thấy rất ít triệu chứng. Trong trường hợp khối u là ung
thư, thầy thuốc phụ khoa sẽ thực hiện kỹ thuật ngoại khoa cổ điển cùng
lúc với phẫu thuật nội soi.
Hỏi : Những chỉ định chính xác của kỹ thuật này (coeliochirurgie)
là gi ?
Michel Canine : Chúng tôi khuyên áp dụng kỹ thuật này ngay khi khám phá
ra một khối u buồng trứng, và trong trường hợp u dịch kéo dài (tumeur
liquide persistante).
Hỏi : Nói tóm lại, những lợi ích của kỹ thuật chẩn đoán
này là gì ?
Michel Carine : 1. Độ tin cậy của chẩn đoán. 2. Có thể thực hiện chẩn
đoán và, trong trường hợp cần thiết, điều trị ngoại khoa trong cùng thì
giải phẫu. 3. Ưu điểm đối với các phụ nữ có một khối u lành tính là tránh
được một giải phẫu nặng nề và chỉ phải chịu một động tác vi xâm nhập (un
acte mini-invasif). (PARIS MATCH 5/3-11/3/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr61.htm
(TSYH 61, bài số 9)
10/ BUỒNG TRỨNG : CÁC XÉT NGHIỆM
ĐẦY HỨA HẸN
Siêu âm bằng đường âm đạo (échographie vaginale) và xét nghiệm máu cho
phép tăng gấp đôi số trường hợp ung thư được phát hiện sớm và có thể điều
trị.
Cũng như những dạng ung thư khác, như những ung thư tuyến tiền liệt hay
ung thư tử cung, ung thư của buồng trứng (cancer de l’ovaire) có tiến
triển chậm, đặc biệt khó được chẩn đoán sớm. Các buồng trứng cử động khá
tự do trong ổ bụng. Đó là lý do tại sao vào lúc bắt đầu bị bệnh, các bệnh
nhân có ít triệu chứng. Khi các triệu chứng xuất hiện, chúng rất ít đặc
hiệu : đau bụng mơ hồ, cảm giác căng phồng, nôn, táo bón, đi tiểu thường
xuyên một cách bất thường, gia tăng thể tích của bụng (quần áo chật).
Mệt mỏi và mất cân có thể xuất hiện.
Hậu quả, đó là những ung thư buồng trứng bị chẩn đoán muộn : 70% các phụ
nữ bị ung thư buồng trứng ở vào một giai đoạn tiến triển, với một tỷ lệ
sống còn khoảng 20 đến 30% vào 5 năm sau chẩn đoán. Thật là đáng tiếc,
vì lẽ ung thư này nếu được phát hiện sớm, tỷ lệ chữa lành là 90%.
Vậy có những phương tiện chắc chắn để phát hiện sớm là chiếc chìa khóa
để cứu hàng ngàn sinh mạng : những tiến bộ của siêu âm bằng đường âm đạo
(échographie transvaginale) và sự phát triển một điểm số nguy cơ (un score
de risque) để giải thích những kết quả của một xét nghiệm máu tìm chỉ
dấu ung thư (xét nghiệm “CA125”) đã gợi ý rằng một chương trình điều tra
phát hiện sớm quy mô lớn là có thể thực hiện.
Để kiểm chứng điều đó, giáo sư Ian Jacobs của Londres đã đánh giá hiệu
quả của hai phương pháp (siêu âm và xét nghiệm máu) và hiệu quả của chúng
lên tỷ lệ tử vong. Những người tham gia sẽ được trắc nghiệm cho đến cuối
năm 2012 và được theo dõi về mặt y khoa cho đến cuối năm 2014, nhưng những
kết quả đầu tiên, đầy hứa hẹn, được công bố tuần này bởi tạp chí Lancet
Oncology.
Giữa năm 2001 và 2005 ở Vương Quốc Anh, 202.638 phụ nữ mãn kinh, tuổi
từ 50 đến 70, đã được phân chia thành các nhóm, với chương điều tra phát
hiện theo hai phương pháp (siêu âm và xét nghiệm máu) hoặc chỉ theo một
phương pháp (siêu âm). Theo các kết quả, chương trình điều tra đã cho
phép phát hiện phần lớn các phụ nữ có một ung thư buồng trứng. Gần một
nửa các ung thư được phát hiện ở các giai đoạn đầu, trong khi bình thường,
chỉ một phần tư các ung thư xâm nhập (cancers invasifs) là được phát hiện
vào giai đoạn đầu tiên hết.
CHÍN LẦN ÍT PHẪU THUẬT HƠN
Tổng cộng, 87 ung thư đã được phát hiện nhờ chương trình điều tra, có
những tỷ lệ tương tự, với hai phương pháp kết hợp hay chỉ siêu âm mà thôi.
Tuy nhiên, sự liên kết của hai xét nghiệm là đáng chú : ít thực hiện lại
trắc nghiệm trong trường hợp kết quả bất thường và gần như 9 lần ít hơn
bị phẫu thuật do ung thư được phát hiện. Tính toàn bộ, điều này mang lại
một mối lợi hai năm về mặt thời gian trên bệnh. Mỗi năm bệnh ung thư buồng
trứng giết chết khoảng 100.000 phụ nữ trên toàn thế giới. Một chẩn đoán
nhanh hơn có thể cứu được nhiều mạng người. Tuy nhiên, để chắc chắn rằng
một chương trình điều tra phát hiện như thế cho phép cứu được mạng người,
sẽ phải đợi sự chấm dứt của các thử nghiệm lâm sàng, vào năm 2014. (LE
SOIR 12/3/2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (31/3/2009)
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |