Thời Sự Y Học số 121
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh

1/ MỘT NỖI ĐAU ĐỚN NGHÌN NĂM 
Hoàn toàn cụ thể trong sự cảm nhận, tuy nhiên trừu tượng trong ý niệm, sự đau đớn là một trong những nghịch lý lớn nhất của y học. Mỗi con người hiện đại một ngày nào đó đều phải đương đầu với vấn đề này. Thế còn những tổ tiên xa xăm của chúng ta đã nghĩ gì? Về những người đàn ông và phụ nữ đã sống trong những điều kiện cực kỳ, vào một thời kỳ trong đó các điều trị có thể nói là không hiện hữu.
Chẳng cần những dấu tích văn tự để biết được điều đó : sự đau đớn đã có từ thuở bình minh của loài người. Con người tiền sử đã sinh ra và lớn lên với nó, ngày lại ngày liều mạng săn bắn trong một môi trường thù địch. Để băng bó các vết thương, tổ tiên của chúng ta không có sẵn kho dụng cụ và thuốc men hiện đại : họ chỉ có để sử dụng một vài cây cỏ mà họ biết rõ những bí quyết.
MỘT LỰC TẠO RA CÁC HỖN LOẠN
Tuy vậy, một vài nhà tư tưởng không do dự cho rằng sự đau đớn đã không bao giờ hiện diện và rõ ràng như suốt trong năm hoặc sáu thập niên qua. Thật vậy, những tiến bộ ghi nhận được trong điều trị của sự đau đớn từ cuối chiến tranh thế giới lần hai, mang lại hậu quả là làm giảm ngưỡng chịu đựng (seuil de tolérance) của chúng ta.
Nhưng chúng ta hãy đi ngược lại dòng thời gian. Cũng như thường xảy ra trong lịch sử y học, chính Corpus Hippocraticum đã cho chúng ta những tác phẩm đầu tiên về vấn đề này. Cũng như nhiều đồng nghiệp cầm bút khác, Hippocrate (460-377) đặt nhiều tầm quan trọng vào phương cách mà bệnh nhân mô tả sự đau đớn của mình và xếp loại đau đớn dựa theo ba tiêu chuẩn : vị trí, thời gian và cường độ. Trong các bản văn mà các thầy thuốc Hy lạp đầu tiên để lại cho chúng ta, như Sophocle (496-409) hay Homère (800-750), khái niệm đau đớn thời đó hơi khác với khái niệm của chúng ta bây giờ, trong sự mô tả cũng như trong sự cảm nhận.
Vào thời thượng cổ, những người Hy Lạp phân biệt 3 loại đau đớn : odunè, một đau đớn cấp tính, dữ dội và khu trú (douleur aigue, fulgurante et localisée) ; algos, một đau đớn dai đẳng (douleur persistante), được cảm nhận toàn thân thể và sau cùng pèma, đau đớn như là một phần của định mệnh con người. Trong một trong những tác phẩm của mình, Sophocle mô tả nỗi đau đớn tái diễn mà một vết thương nung mủ ở chân đã gây cho người anh hùng huyền thoại Philoctète. Trong tác phẩm này, Sophocle đã mô tả sự đau đớn như là một lực gần như tự trị, can dự vào trong cơ thể con người, tạo nên sự hỗn loạn và có thể nói, làm hao mòn từ bên trong con người đau khổ. Người ta còn ghi nhận rằng trong tinh thần của Sophocle, đau đớn là một hình phạt của thần linh.
MỘT CƠ CHẾ BÁO ĐỘNG
Nhà tư tưởng lớn khác, lần này latin, Sénèque (4 trước công nguyên đến 65 sau công nguyên) cũng đã lưu lại cho chúng ta một tài liệu xuất sắc bàn về đau đớn. Người đã từng là gia sư của Néron, đã kể lại trong tác phẩm này rằng sự tự kỷ âm thị (autosuggestion) đóng một vai trò quan trọng trong sự cảm nhận đau đớn : “Bây giờ chúng ta hãy trở lại những nỗi khó chịu của chính căn bệnh. Căn bệnh thường được kèm theo bởi những sự đau đớn rất dữ dội; rằng những cơn thuyên giảm tuy vậy làm cơ thể chịu đựng được, bởi sự kịch phát của nó có nghĩa là sự chấm dứt của cơn đau. Người ta không thể đau đớn nhiều và dài lâu: thật vậy, người mẹ thiên nhiên nhân từ đã rèn luyện cho chúng ta, đến độ nỗi đau đớn của chúng ta luôn luôn hoặc là ngắn ngủi, hoặc là có thể chịu đựng được. Hết sức tránh đừng để chính mình làm trầm trọng thêm nỗi đau đớn và làm trường hợp xấu đi bởi những lời than vãn. Sự đau đớn là nhẹ, khi dư luận không hề phóng đại nó lên.. Và nếu ta lấy can đảm mà nói rằng “không hề gì”, “chỉ chút ít thôi”, “phải không nao núng”, “cái đó rồi sẽ qua đi”, bằng sự thuyết phục, khi đó ta sẽ làm cho sự đau đớn trở thành nhẹ đi. Tất cả tùy thuộc vào tâm trạng: chúng ta chỉ khốn khổ khi nào chúng ta nghĩ là như vậy.”
Sự điều trị đau đớn vượt qua một chặng đường quan trọng đầu tiên nhờ các quan sát của thầy thuốc la mã nổi tiếng Galien (129-199), xem sự đau đớn như là một cơ chế báo động (mécanisme d’alerte) được gắn vào cơ thể con người. Ngoài ra, Galien là một trong những thầy thuốc đầu tiên đã thực hiện một sự xếp loại đau đớn dựa trên những tiêu chuẩn chính xác. Trong đau đớn, ông đặc biệt phân biệt đau đớn đập (douleur pulsatile), đau đè nặng (douleur gravative), đau căng (douleur tensive), đau như châm (douleur pongitive), một xếp loại mãi 2000 năm sau vẫn còn có tính thời sự
Thời Trung cổ được xem như là một thời kỳ trì trệ khoa học. Mặc dầu điều khẳng định này, trên nhiều phương diện, đáng được bác bỏ, tuy nhiên sự xác nhận này vẫn đúng đối với điều trị đau đớn. Bằng cớ là phương cách mà sự đau đớn được quan niệm vào thời kỳ đó : không phải phương cách của Galien hay của Dioscoride, mà chính là triết lý khắc kỷ (philosophie stoicienne) đã thống trị. Mãi đến tận cuối thời kỳ Trung Cổ, ít có tác phẩm về đề tài này được công bố, điều này tương phản với sự ngự trị khắp nơi của những biểu tượng về nỗi đau khổ triền miên qua hình ảnh Thánh Giá. Lấy thí dụ, bức tranh chúa Jésus bị đánh roi (flagellation) là chuyện thường tình trong giới tu sĩ, qua đó muốn tìm kiếm sự cảm thông với những nỗi khổ của Đứa Con của Thượng Đế.Vào thời kỳ đó, đau đớn được xem như là một bộ phận của định mệnh của con người và được tóm tắt trong một leitmotiv duy nhất : hãy đau khổ và hãy chịu đựng nó !
Vào thời Phục Hưng, những điều trị giảm bệnh (soins palliatifs) trải qua một sự đảo lộn sâu rộng nhờ những tiến bộ to lớn của những nghiên cứu trong cơ thể học. Những nghiên cứu này mang lại một quan niệm mới về cơ thể con người, trên bình diện thuần cơ thể học cũng như trên bình diện triết học. Quan niệm về đau đớn tiến triển thấy rõ, như ta có thể đặc biệt chứng thực điều đó lúc đọc Essais de Michel của Montaigne (1533-1592). Montaigne xem đau đớn như là một quan niệm rất cá nhân: “sự khoái lạc cực kỳ không chạm chúng ta như một đau đớn nhẹ”. Những ý tưởng của ông sẽ có ảnh hưởng nhiều lên các công trình của Descartes và của những người kế nghiệp.
DESCARTES VÀ THẾ KỶ ÁNH SÁNG
Vào thế kỷ 17, René Descarte (1596-1650) phát triển ý niệm cơ học của ông về hai thực tế độc lập: thể xác và linh hồn. Đối với Descartes, đau đớn là một sự tri giác vật lý (perception physique) thâm nhập vào trong ý thức (conscience).
Thật là sai lầm khi ông khẳng định rằng có một mối liên hệ trực tiếp giữa sự phá hủy các dây xúc cảm và sự đau đớn. Theo ông, sự đau đớn là do một chuyển động dữ dội của các “thần linh động vật” (“esprits animaux”) trong các dây thần kinh, gây nên do sự phá hủy của các sợi cảm xúc.
Những công trình của Descartes, cũng như những công trình của những nhà nghiên cứu khác như Thomas Willis (1621-1675), người Anh, đánh dấu một sự đoạn tuyệt vĩnh viễn giữa sự đau đớn, tai họa, tội lỗi và sự trừng phạt. Khi đó, đau đớn thường được xem như là một loại giác quan thứ sáu, một hệ thống báo động hơn là một căn bệnh tự nó. Vào thời kỳ này, thuốc phiện, được nhập từ Đế quốc Thổ, là một chất làm dịu rất được ưa chuộng ở Tây Âu. Mặt khác, người ta chứng nhận rằng đau đớn và phép điều trị nó, được quan tâm trở lại vào thế kỷ Ánh Sáng, kèm theo một quan điểm xã hội học của một sự nhạy cảm gia tăng đối với đau đớn. Sau đó, phải đợi thế kỷ thứ 19 để ghi nhận những đột phá quan trọng mới trong lãnh vực điều trị giảm bệnh và nghiên cứu về đau đớn. Việc nhờ đến éther trong lúc giải phẫu và việc kê toa aspirine, đã biến đổi vĩnh viễn quan niệm về sự đau đớn. Quan niệm này từ giã chức năng chuyên nhất của dấu hiệu báo động và từ nay được chẩn đoán như bất cứ triệu chứng y khoa khác. Sự tiến triển này mở đường cho những nghiên cứu về nguồn gốc và sự phát sinh của đau đớn, về sự hoạt động của các bộ phận khác nhau của não bộ và về những phương pháp giảm bệnh khác.
SỰ ĐAU ĐỚN ĐƯỢC GÂY MÊ
Mặc dầu éther không hẳn là một chất kỳ diệu, tuy vậy không nên đánh giá thấp vai trò của nó trong sự tiến triển của điều trị đau đớn. Trước khi khám phá những tính chất gây mê của éther, các thầy thuốc thường dùng thuốc phiện và cồn. Vào khúc ngoặt của thế kỷ thứ 19, kho thuốc được phong phú thêm bởi khí gây cười (gaz hilarant), khí carbonique và những kỹ thuật thôi miên. Một trong những người tiền phong của éther là nhà hóa học và thầy thuốc Hoa Kỳ, William E.Clarke, sử dụng éther năm 1842 để nhổ một chiếc răng nơi một trong những bệnh nhân của ông. Sau đó éther vượt Đại tây dương và được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1846 ở Paris và Luân Đôn. Vì những tác dụng phụ (nôn, kích thích phổi), năm 1847, éther nhường bước cho chloroforme. Sự khám phá những tính chất gây mê của chloroforme là kết quả của một sự tình cờ may mắn. Ở đại học Edimbourg, do bất cẩn, một phụ tá đã làm đổ một chai chloroforme trong phòng thí nghiệm của James Young. Khi phu nhân của Simpson mang bữa ăn lại cho những nhân viên trong phòng thí nghiệm, bà ta nhận thấy toàn thể đều nằm ngủ say sưa. Phải một nhân vật tiếng tăm xác nhận tin đồn này để chloroforme thật sự chế ngự trong thực hành y khoa.
MỘT KÍCH THÍCH THẦN KINH
Chính như thế mà vào tháng tư năm 1853, Hoàng hậu Victoria đã nhờ đến chloroforme để hạ sinh đứa con trai mình là Léopold. Sự thỏa mãn mà hoàng hậu tỏ bày không ngăn cản cuộc luận chiến bùng nổ : ngay trong Giáo Hội, thật vậy người ta cho rằng sự đau đớn lúc sinh đẻ bắt nguồn từ sự khoái lạc của thần linh. Những chống đối cũng nổi lên trong thế giới khoa học, trong đó vài thầy thuốc còn cho rằng việc sử dụng éther hay chloroforme mang lại quá nhiều nguy cơ, một lý lẽ không phải là không không có lý trong những trường hợp phẫu thuật nặng nề. Vào năm 1859, gây mê tại chỗ ghi nhận một bước tiến mới với sự xuất hiện của cây coca. Cocaine khi đó trở thành chất nha phiến đầu tiên được dùng tại chỗ và sẽ được tổng hợp vào năm 1885.
Vào thế kỷ thứ 19, trung tâm đầu não nghiên cứu về đau đớn nằm ở Hoa Kỳ. Ở đây, người ta đặc biệt nghiên cứu con đường dẫn truyền cảm giác đau đớn qua các sợi thần kinh. Vào thời kỳ này và mãi cho đến giữa thế kỷ 20, lý thuyết về tính đặc hiệu (théorie de la spécificité) ngự trị. Lý thuyết này, trực tiếp phỏng theo những điều giảng dạy của Descartes, xem sự đau đớn như là một kinh nghiệm giác quan (une expérience sensorielle) được trang bị bởi một hệ thống di chuyển và báo động tự trị. Cảm giác đau đớn được tải đến tủy sống bởi các sợi thần kinh : các sợi nhanh delta-A, và các sợi C chậm hơn. Từ đó, kích thích (stimulus) lan tràn đến tận vùng đồi thị (thalamus) và vỏ não. Chỉ khi đó chúng ta mới ý thức sự đau đớn. Tuy nhiên lý thuyết này có những khiếm khuyết. Thí dụ những người ủng hộ lý thuyết rất khó mà giải thích tại sao đau đớn không biến mất mà còn có thể gia tăng khi ta cắt các sợi thần kinh.
MỘT PHUƠNG PHÁP NHIỀU BỘ MÔN
Vào giữa thế kỷ vừa qua, chính xác hơn là vào năm 1948, một thầy thuốc gây mê Hoa Kỳ, John Bonica (1917- 1994), phải đối phó với một làn sóng các cựu chiến binh hồi hương đổ tới từ Châu Âu và Viễn đông. Thật đáng ngạc nhiên, vì sau khi đã chữa lành các vết thương, những cựu chiến binh này vẫn luôn luôn kêu đau đớn. John Bonica nhanh chóng ý thức rằng những phương pháp cổ điển không đủ để làm thuyên giảm các cơn đau và quyết định thành lập nhóm nhiều chuyên khoa đầu tiên, nhằm vào việc xử lý vấn đề đau đớn, liên kết các thầy thuốc và các chuyên gia về hành vi và tâm thần. Như vậy, ông đặt nền móng cho cái điều sẽ trở thành một bộ môn hoàn toàn riêng biệt của y khoa. (SEMPER 3/2009)
2/ CALCIUM CHỐNG LẠI UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG
Lượng calcium được khuyến nghị mỗi ngày cho mỗi người là khoảng 1000 mg từ 19 đến 50 tuổi và 1200 mg sau 50 tuổi. Những người Pháp trung bình ở dưới tỷ xuất này. Theo một công trình nghiên cứu rộng rãi của Hoa Kỳ, được thực hiện nơi 200.000 phụ nữ và 300.000 đàn ông, calcium với liều lượng cao (1500-1800 mg mỗi ngày) làm giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng 16% nơi đàn ông và 23% nơi phụ nữ. (PARIS MATCH 19/3-25/3/2009)
3/ LOẠN NHỊP TIM NGHIÊM TRỌNG : KỸ THUẬT CẮT BỎ (TECHNIQUES D’ABLATION)
Nhân Ngày Hiệp Hội Tim Học của Pháp, G.S Jean-Yves Le Heuzey, thầy thuốc chuyên khoa tim của bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou, đã trình bày kỹ thuật cắt bỏ mới bằng liệu pháp dùng lạnh (technique d’ablation par cryothérapie).
Hỏi : Loạn nhịp tim (arythmie cardiaque) nghĩa là gì ?
G.S Jean-Yves Le Heuzey. Loạn nhịp tim (arythmie) có nghĩa là “ rối loạn nhịp ” (trouble du rythme). Có nhiều loại, nhưng rung nhĩ (fibrillation auriculaire), thường xảy ra nhất, thông thường được gọi là loạn nhịp tim. Ở Pháp, bệnh này gây bệnh cho 750.000 người và người ta tiên đoán sẽ có 2 triệu người vào năm 2050 ! Bình thường các tâm nhĩ co bóp với những khoảng cách đều đặn, rồi thì tâm thất …Trong trường hợp rung nhĩ, các tâm nhĩ “đập loạn xạ” và các tâm thất hoạt động không đều (vì các bất thường luồng điện vào). Hậu quả : triệu chứng hồi hộp, với nguy cơ một cục máu đông được tạo thành trong tâm nhĩ và di chuyển đến một động mạch não (nghẽn mạch: embolie).
Hỏi : Có những triệu chứng báo hiệu hay không ?
G.S Jean-Yves Le Heuzey: Có 3 triệu chứng báo hiệu: hồi hộp không có lý do, khó thở, mệt.
Hỏi : Làm sao xác lập một cách chắc chắn chẩn đoán ?
G.S Jean-Yves Le Heuzey: Bằng một điện tâm đồ được thực hiện nơi thầy thuốc chuyên khoa tim hay bằng một holter có thể mang theo người, ghi hoạt động tim liên tục 24 hay 48 giờ. Cũng có những chiếc máy mang theo người khác, các máy ghi các biến cố “enregistreurs d’événements”, được đặt trên ngực vào lúc lên cơn hồi hộp.
Hỏi : Có những người có tố bẩm không ?
G.S Jean- Yves Le Heuzey : Đó là một bệnh của tuổi về hưu vì lẽ bệnh thường xuất hiện nhất vào khoảng 65 tuổi. Yếu tố làm dễ quan trọng là cao huyết áp : 80% các bệnh nhân là những người bị cao huyết áp !
Hỏi : Điều trị các loạn nhịp tim này nhằm vào những gì ?
G.S Jean- Yves Le Heuzey : Có hai loại điều trị. 1. Một điều trị để ngăn ngừa các cơn. 2. Một điều trị kháng đông để ngăn cản sự tạo thành một cục máu đông rồi một nghẽn mạch (embolie) (antivitamine K hay aspirine). Về điều trị ngăn ngừa, amiodarone, một trong các thuốc hiện nay được sử dụng, có hiệu quả nhưng gây nên các rối loạn của tuyến giáp trạng do thuốc chứa iode. Trong một hay hai năm nữa, chúng ta sẽ có được một thuốc mới, dronédarone, không chứa iode.
Hỏi : Hiện nay, những kết quả thu được với các thứ thuốc là gì ?
G.S Jean-Yves Le Heuzey : Những thuốc này hủy bỏ hay làm giảm các triệu chứng. Nhưng sau khoảng 2 năm, 60% các bệnh nhân tái phát.
Hỏi : Trong trường hợp thất bại, những phương sách khác là gì ?
G.S Jean-Yves Le Heuzey : Những kỹ thuật cắt bỏ (techniques d’ablation) nhằm chữa lành thật sự. Người thầy thuốc đưa một cathéter lên tận tim để phá hủy mô tim bị bệnh, nguồn gốc của loạn nhịp tim. Phương thức được sử dụng nhất ngày nay là kỹ thuật tần số phóng xạ (technique par radiofréquence). Dưới sự kiểm soát của quang tuyến, cathéter (được nối với một máy phát tần số phóng xạ) được đưa vào bẹn, qua tĩnh mạch đùi lên tim, ở tâm nhĩ phải rồi trái. Kỹ thuật cắt bỏ này, do đốt cháy các mô bị bệnh, có thể chữa lành khoảng 60% các bệnh nhân.
Hỏi : Kỹ thuật cắt bỏ mới nhất là kỹ thuật nào ?
G.S Jean-Yves Le Heuzey : Đó là một kỹ thuật được hiệu chính ở Canada, không còn nhằm đốt cháy mà làm lạnh, bằng liệu pháp dùng lạnh (cryothérapie), để phá hủy các mô tim chịu trách nhiệm loạn nhịp tim. Cathéter, được nối với một máy làm lạnh, có ở đầu mút một quả bóng nhỏ (ballonnet), sẽ có thể tọa vị trong các tĩnh mạch phổi. Kỹ thuật này dễ điều biến hơn, an toàn hơn kỹ thuật tần số phóng xạ (technique par radiofréquence). Mặc dầu các kết quả tốt đang còn được đánh giá, chúng ta đã có thể biết rằng liệu pháp dùng lạnh (cryothérapie) có thể được áp dụng một cách an toàn hơn nhiều. Và để còn tăng cường độ chính xác, chúng ta có thể sử dụng một phương thức mới bằng “navigation magnétique” vừa được hiệu chính. Cathéter kim loại lúc đó được kiểm soát và hướng dẫn nhờ các nam châm (như thế không gây bức xạ cho bệnh nhân). Hiện nay chỉ có một máy duy nhất ở Bordeaux. (PARIS MATCH 19/3-25/3/2009). Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr114.htm (TSYH 114, bài số 5)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr82.htm (TSYH 82, bài số 7)
4/ THUỐC KHÁNG SINH MỚI ĐỂ RÚT NGẮN THỜI GIAN ĐIỀU TRỊ BỆNH LAO
Một thuốc kháng sinh mới, moxifloxacine, được sử dụng kết hợp với các thuốc khác, có thể cho phép rút ngắn thời gian điều trị bệnh lao, theo các kết quả của một thử nghiệm sơ khởi được công bố trong The Lancet.
Điều trị hiện nay kết hợp nhiều kháng sinh trong 6 tháng (khác với 12 tháng đến 2 năm cách nay vài năm), tuy nhiên nhiều bệnh nhân ngừng thuốc sớm. Mà một điều trị không hoàn toàn hay được tuân thủ kém, đưa đến một nguy cơ gia tăng tái phát nghiêm trọng, thuận lợi cho một sự gia tăng truyền bệnh và cho sự xuất hiện các vi khuẩn đề kháng với các kháng sinh tuyến đầu (antibiotiques de première ligne). Do đó việc rút ngắn thời gian điều trị làm dễ sự tuân thủ điều trị. Moxifloxacine có thể giúp cho điều đó : một thử nghiệm giai đoạn II (thử nghiệm tính hiệu quả điều trị trên các bệnh nhân người, đồng thời tìm những liều lượng tối ưu) đã được tiến hành ở Brésil, trong một bệnh viện ở Rio de Janeiro, nơi 170 bệnh nhân dương tính đối với bệnh lao. Sau 8 tuần, 80% các bệnh nhân được điều trị với moxifloxacine, có xét nghiệm âm tính, so với 63% trong nhóm chứng.
Tỷ suất biến đổi âm tính sau 8 tuần điều trị “gợi ý rằng moxifloxacine, kết hợp với những thuốc kháng lao tuyến đầu khác, có thể làm giảm nhiều tháng thời gian điều trị cần thiết để chữa lành bệnh lao”, theo các tác giả của công trình nghiên cứu.
Năm 2007, 9,27 triệu trường hợp bệnh lao mới được ghi nhận trên thế giới và căn bệnh đã chịu trách nhiệm 1,75 triệu trường hợp tử vong, theo Tổ chức y tế thế giới. Con số này sẽ có thể gia tăng nhiều: nữ giám đốc OMS, Magaret Chan, vừa đưa ra một lời cảnh cáo trên thế giới về sự trỗi dậy của những giống gốc của bệnh lao rất đề kháng, sẽ nhanh chóng trở nên không thể chế ngự được, và đã hô hào các nước liên hệ chống lại mối đe dọa gia tăng này. Bà đã yêu cầu 27 nước, bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi những giống gốc đề kháng của vi khuẩn lao, áp dụng những biện pháp cật lực để cải thiện việc điều tra phát hiện và tăng cường hệ thống y tế của họ.
“Gọi điều đó là bom nổ chậm hay thùng thuốc nổ, thế nào cũng được. Dầu sao đi nữa, tình hình đang có tiềm năng bùng nổ”, người phụ trách tổ chức y tế thế giới đã đánh giá như vậy.
Không được phát hiện, những người mang vi trùng đề kháng có thể truyền bệnh và làm phát khởi một trận dịch, trong một nền kinh tế rất được toàn cầu hóa. Và ngay cả khi được phát hiện chăng nữa, những người bị nhiễm trùng phải nhờ đến những thuốc hiệu quả hơn và tốn kém hơn, không kham nỗi trong hệ thống y tế của nhiều nước. Theo OMS, dưới 5% những trường hợp được đánh giá, được phát hiện và dưới 3% được điều trị. (LE SOIR 6/4/2009). Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr67.htm (TSYH 67, bài số 1)
5/ MỘT THUỐC KHÁNG LAO MỚI ĐẦY HỨA HẸN ĐƯỢC TRẮC NGHIỆM TRÊN ĐỘNG VẬT
Hợp chất này ngăn cản tác nhân gây bệnh phát triển thành vi khuẩn của nó. Đó là một sự hợp tác quốc tế thật sự của các nhà nghiên cứu: một nhà hóa học người Nga, những nhà vi trùng học người Ý, Pháp, Đan Mạch và Đại Hàn, đã khám phá và nghiên cứu trên động vật một thuốc kháng lao mới, có vẻ thật sự đầy hứa hẹn. Họ đã công bố những chi tiết trong tạp chí Hoa Kỳ Science 19/3/2009. Stewart Cole (Viện Pasteur Paris) và Vadim Makarov (Viện sinh hóa, Moscou) trước hết đã tổng hợp vào năm 2006 và 2007, một loạt các phân tử, được mệnh danh là dị vòng, chứa các gốc sulfure (hợp chất lưu huỳnh và carbone hay hydrogène). Thật vậy và từ gần một thế kỷ nay, người ta biết rằng các ion sulfure thường hiện diện trong các kháng sinh cho phép chống lại bệnh lao. Trong loại thuốc này, các nhà nghiên cứu đặt biệt chú ý đến một lớp các chất được gọi là nitro-benzothiazinones (BTZ), giết chết trong canh cấy và nơi chuột, tác nhân gây bệnh lao người, Mycobacterium tuberculosis. Một trong các chất này, BTZ038, đặc biệt có hoạt tính : cũng như các chất bà con, thuốc tác động bằng cách làm chậm hay làm ngừng sự sản xuất của vài yếu tố có cấu trúc thiết yếu cho sự tạo thành thành của vi khuẩn, các “ arabinogalactanes ”. Tác dụng của BTZ038 có hiệu quả gây ấn tượng : nó cản sự tăng trưởng của của các mycobactérie, với những nồng độ gần như 1000 lần thấp hơn so với những thuốc kháng lao cổ điển !
THIẾU CÁC THUỐC MỚI
Thật vậy, nồng độ nhỏ nhất ức chế một canh cấy có thể thấy được của một giống gốc vi khuẩn trong một hộp Petri, đối với BTZ, là khoảng vài chục nanogramme (phần tỷ của gam). Trong khi đó, phải cần tối thiểu 1-5 microgram (phần triệu của gam) đối với Rimifon hay Ethambutol, hai thuốc kháng lao quan trọng, đã được đưa ra thị trường cách nay gần 50 năm. Nhất là dường như BTZ cũng hiệu quả trong canh cấy để giết chết các giống gốc vi khuẩn lao đa đề kháng (souches tuberculeuses multirésistantes) với các thuốc chống lao cổ điển và ngay cả để tiêu hủy những giống gốc được gọi là “cực kỳ đa đề kháng” (extrêmement multirésistants), những giống vi khuẩn lao đề kháng với tất cả các thuốc kháng lao được biết. (LE FIGARO 24/3/2009)
6/ SỰ TIÊU THỤ VITAMINES TRONG THỜI KỲ THAI NGHÉN CÓ NHỮNG ẢNH HƯỞNG LÊN THAI NHI : EM BÉ TINH MA HƠN...VÀ LỚN HƠN ?
Theo định nghĩa, vitamines là chất có tầm quan trọng sinh tồn. Mặc dầu đồ ăn thức uống là nguồn cung ứng đầu tiên của các chất dinh dưỡng này, nhưng việc ăn uống không nhất thiết cung cấp những lượng tối ưu vitamines. Nhất là trong một vài tình huống đặc biệt, trong đó các nhu cầu gia tăng, như trong thai nghén chẳng hạn. Sự kiện những thói quen ăn uống của người mẹ tương lai có những ảnh hưởng lên sự phát triển về sau của đứa bé thì ai củng đã biết rõ, nhưng tính chất chính xác của những ảnh hưởng này vẫn còn là đối tượng của nhiều nghiên cứu và... khám phá. Như là, sự tiêu thụ axit béo oméga 3 trong thời kỳ thai nghén, đặc biệt là phát xuất từ cá, có ảnh hưởng thuận lợi lên sự phát triển não bộ của thai nhi. Mới đây, một nhóm nghiên cứu người Hoa đã quan tâm đến tình trạng các sinh tố chống oxy hóa (vitamines antioxydantes) (A, C và E) trong thời kỳ thai nghén, và ảnh hưởng của chúng lên sự phát triển nhận thức (développement cognitif) của các em bé.
NHỮNG TÁC DỤNG CÓ LỢI
Các nhà nghiên cứu đã phân tích nồng độ của 3 vitamine này trong máu của 150 phụ nữ có thai, cũng như trong cuống rốn ngay sau khi sinh. Sau đó, họ đã đánh giá sự phát triển trí tuệ của các em bé (trong đó có các năng lực vận động và ngôn từ). Như thế họ đã có thể chứng thực rằng các điểm số (score), nhận được nơi các em bé 2 tuổi, tùy thuộc vào tình trạng vitamine A và E của người mẹ, cũng như tùy thuộc vào nồng độ chuyển của hai vitamine này bởi dây cuống rốn. Điều này không có nghĩa rằng các nhũ nhi, đã được hưởng nhiều vitamine A và E, sẽ trở thành những người lớn thông minh hơn, nhưng dầu sao cũng gợi ý vài tác dụng có lợi khi các vitamine này được sử dụng với liều lượng đầy đủ trong lúc thai nghén.
Tất cả điều này có vẻ phù hợp với chính khái niệm của vitamine. Nhưng các vitamine này cũng có thể để lộ một bộ mặt khác : những chất sinh tố này có thể làm dễ một cách hơi quá mức sự phát triển, đến độ làm dễ sự tăng quá mức thể trọng và chứng béo phì. Dẫu sao, đó là một hướng mới phát xuất từ những công trình được thực hiện nơi động vật bởi một nhóm nghiên cứu người Canada. Các nhà nghiên cứu của Đại học Toronto đã nuôi hai nhóm chuột mang thai với hai chế độ ăn uống chỉ khác nhau duy nhất bởi nồng độ (bình thường hay cao) của các vitamine. Sau đó, con cháu được cho một chế độ ăn được gọi là “sinh béo phì (obésogène)”, có nghĩa là làm dễ sự tiêu thụ quá mức năng lượng. Các kết quả cho thấy một cách rõ ràng rằng các động vật phát xuất từ các chuột mẹ “được nuôi dưỡng quá nhiều vitamine” (hypervitaminé), trở nên béo phì dễ dàng hơn những chuột khác. Dĩ nhiên những kết quả này không thể được suy diễn trên người. Nhưng vào giờ phút mà người ta thường tìm cách để xác nhận những kết quả có lợi có thể liên kết với một sự gia tăng cung cấp của vài loại vitamine, thì đây là điều có thể khiến chúng ta phải chùng bước lại. (LE SOIR 4/4-5/4/2009) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr74.htm (TSYH 74, bài số 1)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr52.htm (TSYH 52, bài số 10)
7/ VITAMIN B CÓ THỂ LÀM HẠ THẤP NGUY CƠ BỊ BỆNH MẮT
Cho vitamin B bổ sung có thể làm giảm nguy cơ bị bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (age-related macular degeneration), ít nhất nơi các phụ nữ bị bệnh tim mạch hay có nguy cơ bị bệnh này. Thoái hóa điểm vàng, một bệnh phá hủy vùng trung tâm của võng mạc, là nguyên nhân dẫn đầu của sự mất thị giác nghiêm trọng nơi những người trên 50 tuổi.
Trong một công trình nghiên cứu, được công bố ngày 23/2 trong The Archive of Internal Medicine American, các nhà nghiên cứu đã theo dõi 5.205 người phụ nữ hoạt động trong ngành y tế, có bệnh tim mạch hay 3 hoặc nhiều hơn các yếu tố nguy cơ tim mạch. Các phụ nữ này được chia thành hai nhóm : nhóm nhận một placebo và một nhóm nhận một phối hợp acide folique và các vitamine B6 và B12. Sau một thời gian theo dõi trung bình 7,3 năm, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng những phụ nữ uống vitamin B có nguy cơ bị thoái hóa điểm vàng mức độ quan trọng được thu giảm. Điều này có thể là do các vitamins B làm giảm nồng độ homocysteine (một acide aminé) trong máu ; chất này có can dự trong sự mất thị giác.
Những tác giả lãnh đạo công trình, B.S William G.Christen, một phó giáo sư y khoa của Havard, đã từ chối khuyến nghị sử dụng vitamin B. Ông nói cần phải có những công trình nghiên cứu khác nữa. (INTERNATIONAL HERALD TRIBUNE 5/3/2009) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr82.htm (TSYH 82, bài số 6)
8 /NHỮNG NGƯỜI ĂN CHAY ÍT BỊ UNG THƯ
ALIMENTAION. Tỷ lệ ung thư giảm 11% nơi những người không ăn thịt. Tất cả các bệnh lý đều có liên quan, ngoại trừ các bệnh lý đại tràng và tuyến tiền liệt.
Chế độ ăn chay sẽ là một thành lũy chống lại ung thư. Đó là kết luận của một công trình nghiên cứu, được công bố bởi một nhóm các nhà dịch tễ học của đại học Oxford (Vương quốc Anh) trong American Journal of Clinical Nutrttion. Tác giả chính, giáo sư Timothy Key, đã sàng lọc các hành vi ăn uống (comportement alimentaire) của 63.500 đàn ông và phụ nữ người Anh, từ những năm 1990. Từ đó họ rút ra kết luận là tỷ lệ ung thư nói chung ít cao hơn (khoảng dưới 11%) nơi những người không ăn thịt. Tất cả các ung thư, dầu chúng định vị ở đâu, vú, phổi, não bộ, gan, họng..., đều có liên hệ bởi sự thu giảm này, ngoại trừ, thật nghịch lý, các ung thư của đại tràng (đối với cả hai giới) và của tuyến tiền liệt nơi đàn ông.
“Điều đó là bình thường, Bernard Guy-Grand, phó giám đốc của Viện dinh dưỡng của Pháp đã nói như vậy. Nói chung, những người ăn chay không hút thuốc, không uống rượu và tập thể dục, chừng đó yếu tố được biết có tác dụng bảo vệ chống ung thư.” Một phân tích được xác nhận bởi Marina Touilaud, bác sĩ y tế công cộng ở Inserm, chuyên khoa dinh dưỡng, hormone và ung thư. Nếu tỷ lệ mắc phải ung thư phổi được chia 3 đối với những người ăn chay, đơn giản đó là bởi vì họ không hút thuốc!”, nhà nữ nghiên cứu đã nhận xét như vậy.
Cái mới của công trình nghiên cứu này, đó là cho thấy rằng, dầu sao các người ăn chay có nhiều nguy cơ bị ung thư đại trực tràng hơn những người khác, trong khi từ lâu người ta đã nghĩ rằng loại ung thư này đặc biệt là do một sự tiêu thụ quá mức thịt đỏ (viande rouge).
THIÊN LỆCH THÔNG KỂ
“Những kết quả này ít nhất cũng đáng ngạc nhiên, BS Nadia Slimani, của Trung tâm quốc tế nghiên cứu về ung thư (Lyon) đã tuyên bố như vậy. Theo bà, số trường hợp ung thư đại tràng của dân chúng được khảo sát là quá thấp (62 trường hợp) nên không thể suy đoán rằng những người ăn chay ít bị hơn những người khác loại ung thư này. Như thế những kết quả này có thể được quy cho một thống kê thiên lệch. “Đó là chưa kể rằng công trình nghiên cứu không xét đến những yếu tố như rượu hay tập thể dục, trong khi người ta biết đích xác rằng chúng có thể đóng một vai trò đối với ung thư đại trực tràng”.
Một lập trường được chia sẻ bởi Marina Touillaud, thuộc Inserm, nhấn mạnh: “Chúng ta biết rằng sự tiêu thụ thịt đỏ làm gia tăng nguy cơ mắc phải ung thư đại trực tràng, rằng ăn cá làm hạ nguy cơ này và rằng ăn thịt trắng (viande blanche) không làm biến đổi nguy cơ.”
Cần theo đúng điều mà chúng ta đã biết về thịt đỏ (viande rouge). Năm 2007,Viện quốc gia ung thư (Inca) và Cơ quan an toàn y tế các thực phẩm (Afssa) nêu lên rằng sự tiêu thụ thịt đỏ và đồ lợn (charcuterie) được liên kết với sự gia tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng.
Inca đánh giá rằng nguy cơ ung thư đại trực tràng được gia tăng 29% với mỗi suất 100g thịt đỏ được tiêu thụ mỗi ngày và 21% với mỗi suất 50g đồ thịt lợn được tiêu thụ mỗi ngày. Nhiều cơ chế có thể giải thích hiện tượng này: vài đồ thịt lợn mang lại muối nitrite; sự sản sinh các hợp chất N-nitrosés sinh ung thư trong dạ dày và bởi các vi khuẩn của khuẩn chí ruột; sự sản sinh các gốc tự do (radicaux libres) và các cytokines pro-inflammatoires...
Có phải vì thế mà phải trở thành những người ăn chay cả sao? Có lẽ là không phải vậy. Vài cách ăn uống có thể được liên kết với những tình trạng thiếu dinh dưỡng (carences). Có thể bảo vệ chống ung thư trong một chừng mực nào đó bằng cách theo vài hành vi ăn uống từ nay được quy tắc hóa. (LE FIGARO 17/3/2009) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr112.htm (TSYH số 112, bài số 10).
9/ CÓ NÊN CHỦNG NGỪA ĐÀN ÔNG CHỐNG LẠI PAPILLOMAVIRUS ?
Nhiều lý do có thể biện minh cho việc chủng ngừa hai giới chống lại ung thư của cổ tử cung : thứ nhất, papillomavirus cũng gây nên các ung thư nơi đàn ông (đường miệng, hậu môn, dương vật) ; thứ hai, việc điều tra phát hiện ít được thực hiện đối với nam giới, và thứ ba, chủng ngửa hai giới sẽ tạo sức ép lên virus. “Cũng hơi giống như đối với bệnh đậu mùa, đã biến mất một khi 80% dân chúng được chủng ngừa”, Yann Leocmach, thuộc phòng bào chế Sanofi-Pasteur MSD đã giải thích như vậy. Nhưng vì không có một bằng cớ về tính hiệu quả lâm sàng nơi đàn ông (làm giảm các thương tổn ung thư), nên ưu tiên vẫn là một chiến lược tiêm chủng tốt cho các phụ nữ liên hệ : chủng 80% trong số những phụ nữ này cũng đủ để bảo vệ các ông. (SCIENCE ET VIE 4/2009). Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr97.htm (TSYH 97, bài số 1 và 2)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr74.htm (TSYH 74, bài số 8)
10/ CHỨNG TRẦM CẢM VÀ BỆNH ĐỘNG MẠCH VÀNH
Những yếu tố nguy cơ thông thường đối với bệnh động mạch vành (maladie coronarienne) đã được biết rõ : những yếu tố di truyền, bệnh đái đường, cao huyết áp, loạn chức năng các tiểu cầu (thrombocytes), tăng lipid-máu, thuốc lá, béo phì.
Ngoài những yếu tố nguy cơ thông thường này, theo tài liệu khoa học mới đây, thì chính chứng trầm cảm là một yếu tố nguy cơ cho sự phát triển của bệnh động mạch vành. Vài tác giả quan sát thấy một nguy cơ phát triển bệnh động mạch vành gia tăng 1,64 đối với những người có những tiền sử trầm cảm. Điều này đặt nguy cơ của chứng trầm cảm ở một mức trung gian giữa nhiễm độc thuốc lá thụ động và chủ động.
Một khi đã là nạn nhân của của một nhồi máu cơ tim, thì sự kiện bị trầm cảm làm gia tăng 3-4 lần tỷ lệ tử vong vào lúc 6 tháng sau, nhưng cũng vào lúc 5 năm sau, và nguy cơ càng cao khi cường độ của trầm cảm càng nặng, cũng như vào lúc 10 năm sau. Như thế, theo tác giả này, trầm cảm tạo thành yếu tố nguy cơ gây tử vong độc lập sau khi bị nhồi máu cơ tim, cũng như bệnh đái đường, loạn nhịp tim và suy tim.
Làm sao hiểu được mối liên hệ giữa chứng trầm cảm và bệnh tim mạch? Trước hết, phải hiểu rằng nếu bệnh nhân tim bị trầm cảm, bệnh nhân này có nguy cơ ít tuân thủ điều trị hơn trên bình diện tim mà thầy thuốc đã kê đơn, và đặc biệt là bệnh nhân sẽ có ít ham muốn hay nghị lực để tập thể dục và biến đổi các thói quen ăn uống của mình hay kể cả ngừng hút thuốc. Nhưng không phải là tất cả. Cũng có những lý do căn bản hơn trên bình diện sinh lý bệnh lý. Trong bệnh trầm cảm, vùng dưới đồi (hypothalamus) có thể kích thích não thùy (hypophyse) tiết những nồng độ ACTH cao hơn. Do đó các tuyến thượng thận có thể bắt đầu tiết những nồng độ cortisol và catécholamine cao hơn. Sự gia tăng catécholamines này có thể dẫn đến thiếu máu cục bộ cơ tim (ischémie myocardique), giảm khả năng thay đổi của nhịp tim, và có thể gây nên loạn nhịp tâm thất. Chứng trầm cảm có thể làm hoạt hóa các tiểu cầu (plaquettes) trong máu. Sự gia tăng cytokines và interleukines theo giả thuyết viêm của trầm cảm, cũng có thể góp phần tạo nên chứng xơ mỡ động mạch (athérosclérose) và nhiên hậu, cao huyết áp.
Sau cũng cortisol tác dụng đối kháng với insuline và góp phần vào loạn lipide-huyết (dyslipidémie), bệnh đái đường loại 2 và chứng béo phì ; sự gia tăng của cortisol cũng có thể làm suy yếu hệ miễn dịch.
Về vấn đề ảnh hưởng lên tỷ lệ tử vong tim của một điều trị chống trầm cảm trong chứng trầm cảm sau nhồi máu cơ tim (dépression post-infarctus du myocarde), câu trả lời không phải là đơn giản ! Trước hết các chất chống trầm cảm ba vòng (antidépresseurs tricycliques) bị chống chỉ định trong trường hợp này vì độc tính của chúng lên tim, nhưng đó không phải là trường hợp đối với SSRI (inhibiteurs sélectifs de la recapture de sérotonine). Đừng quên rằng sérotonine không những chỉ hiện diện nơi hệ thần kinh trung ương mà còn cả nơi các tiểu cầu trong máu (phaquettes sanguines), ở đây sérotonine đóng một vai trò trong sự ngưng kết tiểu cầu (agrégation plaquettaire) và sự co thắt các động mạch vành, do tác dụng của nó lên các thụ thể 5-HT2. Các SSRI và các SNRI (inhibiteurs de la recapture de la sérotonine et de la noradrénaline), do làm giảm lượng sérotonine tiểu cầu, tác dụng với tư cách “ tác nhân chống ngưng kết tiểu cầu ” (anti-agrégant plaquettaires). (TEMPO MEDICAL 7-8/2008)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH (12/4/2009)

Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com


>>>back>>>

Tin Mới Y Học