 |
Thời
Sự Y Học số 122
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ CHẲNG BAO LÂU NỮA MỘT
VACCIN CHỐNG BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 1 ?
Theo một công trình nghiên cứu của Anh, người ta thường tìm thấy các entérovirus
trong các đảo nhỏ của tụy tạng (ilôts pancréatiques) nơi những bệnh nhân
mới đây đã phát triển bệnh đái đường loại 1, nhưng hiếm khi nơi những
trẻ em của nhóm chứng. Công trình này cũng gợi ý rằng người ta tìm thấy
các enterovirus nơi vài bệnh nhân đái đường loại 2.
Một virus dạ dày thông thường có thể làm phát khởi bệnh đái đường, điều
này làm nảy sinh hy vọng có thể phát triển một vaccin. Đó là kết luận
của một công trình nghiên cứu, được thực hiện bởi một nhóm nghiên cứu
người Anh, cho thấy rằng các entérovirus thường được tìm thấy trong các
đảo nhỏ tụy tạng của các bệnh nhân bị bệnh đái đường loại 1, nhưng người
ta cũng có thể tìm thấy nó nơi các bệnh nhân bị đái đường loại 2.
Trong khi nhận xét rằng, càng ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu
chứng tỏ rằng các tế bào bêta của các bệnh nhân bị bệnh đái đường loại
1 có thể bị nhiễm trùng bởi entérovirus, BS S.Richarson và các cộng sự
viên đã muốn biết xem các nhiễm trùng thuộc loại này có rất thường xảy
ra không và chúng có quan trọng trong tiến triển của bệnh lý hay không.
Họ đã khảo sát tỷ lệ hiện diện của protéine vp1 của capside của enterovirus,
trong một số lớn các mẫu nghiệm giải phẫu tử thi của những bệnh nhân đã
vừa mới phát triển một bệnh đái đường loại 1 và trong một nhóm chứng.
Các kết quả cho thấy rằng nhiễm trùng bởi enterovirus đã được phát hiện
trong nhiều đảo nhỏ tụy tạng của 61% các bệnh nhân, so với chỉ 3% của
nhóm chứng . Protéine vp1 đã được tìm thấy trong các tế bào bêta còn sản
xuất insuline. 10 mẫu nghiệm tụy tạng của 25 bệnh nhân (40%) bị đái đường
loại 2 cũng dương tính đối với vp1.
ENTEROVIRUS NÀO ?
G.S Noel Morgan, tác giả chính của công trình nghiên cứu, đã tuyên bố
bị kích động bởi những kết quả này : “ Đó là lần đầu tiên các nhà nghiên
cứu đã mang lại những bằng cớ, liên kết sự nhiễm trùng, bởi enterovirus,
của những tế bào bêta của những đảo nhỏ tụy tạng, với sự phát triển của
bệnh đái đường loại 1. Những giai đoạn kế tiếp sẽ nhằm vào việc xác định
các enterovirus liên hệ, tìm hiểu làm sao các tế bào bêta bị biến đổi
bởi nhiễm trùng và sau cùng, hiệu chính một vaccin có hiệu quả. Những
khám phá này hẳn sẽ cho phép làm giảm một cách đáng kể số người sẽ bị
bệnh đái đường loại 1 trên thế giới, và cũng có thể của bệnh đái đường
loại 2 ”.
Trước khi thấy được một vaccin như thế ra đời, những công trình nghiên
cứu khác sẽ phải trả lời một số câu hỏi nào đó, như : Nhiễm trùng bởi
enterovirus có xảy ra trước khi bệnh đái đường phát triển ? Những kết
quả này có được lập lại trong một một nghiên cứu trên một dân số rộng
lớn hơn ? Tuy nhiên, những dữ kiện này xác nhận giả thuyết theo đó sự
nhiễm trùng sớm của các tế bào bêta bởi các enterovirus, nơi các trẻ em
có tổ bẩm di truyền với bệnh đái đường loại 1, có thể thúc đẩy tính tự
miễn dịch (auto-immunité). “Mặt khác, các tác giả kết luận, nơi những
bệnh nhân mà tình trạng biến dưỡng đã bị xâm phạm, sau khi đề kháng với
insuline, thì sự nhiễm trùng này có thế góp phần vào sự phát triển của
một bệnh đái đường loại 2. ” (LE JOURNAL DU MEDECIN
17/3/2009)
2/ NHỮNG NGƯỜI NGỦ ÍT DỄ BỊ BỆNH
ĐÁI ĐƯỜNG
Những người ngủ dưới 6 giờ mỗi đêm trong tuần hầu như có 5 lần nguy cơ
phát triển sự bất dung nạp đối với glucose (intolérancecau glucose) cao
hơn so với những người ngủ lâu hơn.
Thời gian ngủ có cho phép tiên đoán nguy cơ phát triển một bất dung nạp
đối với glucose hay không ? Lisa Rafalson và nhóm nghiên cứu của đại học
Buffalo ở Nữu Ước đã theo dõi trong 6 năm 1.455 người tham dự của công
trình nghiên cứu Western New York Study. 91 người trong số những người
tham dự đã có nồng độ đường huyết thay đổi từ 100mg/dl vào lúc bắt đầu
công trình nghiên cứu năm 1996-2001, lên 100-125 mg/dl vào lúc được thăm
khám theo dõi năm 2003-2004. Những nhà nghiên cứu đã xếp loại những bệnh
nhân này và 273 người chứng tùy theo thời gian ngủ trong tuần lễ làm việc
: những người ngủ ít (dưới 6 giờ), những người ngủ nhiều (trên 8 giờ)
và trung bình (6-8 giờ). Sau khi điều chỉnh đối với những biến số khác
nhau, họ đã nhận thấy một sự gia tăng đáng kể của nguy cơ phát triển sự
bất dung nạp glucose (intolerance au glucose) nơi những người ngủ ít (petits
dormeurs : dưới 6 giờ) so với những người ngủ trung bình (dormeurs moyens
: 6-8 giờ). Trái lại, so với những người ngủ trung bình, những người ngủ
nhiều (gros dormeurs : trên 8 giờ) không cho thấy một sự liên kết nào
với sự rối loạn đường huyết lúc đói.
PHỤ NỮ NGỦ ÍT DỄ BỊ CAO HUYẾT ÁP HƠN
Trong một công trình nghiên cứu khác, cũng được trình bày trong Hội nghị
của Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ, các nhà nghiên cứu đã khám phá một mối liên hệ
giữa thời gian ngủ và nguy cơ bị cao huyết áp nơi các phụ nữ. Trong lúc
so sánh số giờ ngủ của 3.027 người tuổi trung niên (43,5% đàn ông và 56,5%
phụ nữ), họ đã nhận thấy rằng lúc ngủ ít (dưới 6 giờ), các phụ nữ có nguy
cơ bị cao huyết áp gia tăng đáng kể so với những phụ nữ ngủ từ 6 đến 8
giờ mỗi đêm. Không có một liên hệ nào thuộc loại này đối với đàn ông.
Mặt khác, tác dụng của giấc ngủ rõ nét nơi những phụ nữ trong thời kỳ
tiền mãn kinh (préménopause) hơn nơi những phụ nữ đã mãn kinh. Những công
trình nghiên cứu khác sẽ xác nhận những dữ kiện này.
RỐI LOẠN GIẤC NGỦ LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ BỊ BÉO PHÌ.
Cũng vẫn ở trong vấn đề thiếu ngủ, một công trình nghiên cứu thứ ba, được
trình bày ở hội nghị của Hiệp Hội Tim Hoa kỳ và được thực hiện nơi 967
học trò (9-14 tuổi), cho thấy rằng chất lượng của giấc ngủ được liên kết
với nguy cơ béo phì nơi các trẻ em.
Các nhà nghiên cứu đã đo tầm vóc và trọng lượng của những người tham dự
và đã thu nhận những dữ kiện về chất lượng của những giấc ngủ của những
trẻ này ( “ thường ”, “ đôi khi ”, “ không bao giờ ” có những rối loạn
giấc ngủ). Theo các kết quả, 22% tăng thể trọng (surpoids) và 10,3% béo
phì (obèse). 36% đã “ thường ” có những rối loạn giấc ngủ và, so sánh
với những trẻ “ không bao giờ ” hay “ đôi khi ” có những rối loạn giấc
ngủ, những trẻ “ thường ” có rối loạn giấc ngủ có thêm 62% nguy cơ trở
nên bị béo phì. (LE JOURNAL DU MEDECIN 20/3/2009)
3/ ĐÀN BÀ THÍNH MŨI HƠN ĐÀN ÔNG.
Đàn bà dường như khó bị đánh lừa hơn đàn ông khi nói đến “các mùi của
thân thể”. Thật vậy mùi “sống” của nách thường được mũi của cả hai giới
đánh giá là nồng như nhau; trái lại, khi mùi hôi nách bị che khuất bởi
mùi nước hoa thì các phụ nữ vẫn tiếp tục cảm nhận nó rõ ràng hơn nhiều
so với các ông. Điều đó có thể được giải thích bởi sự kiện là những thông
tin, được tải bởi các hơi bốc của cơ thể, là quan trọng hơn đối với các
bà. Cũng ghi nhận rằng các mùi thân thể của đàn ông khó được che khuất
hơn những mùi thân thể của đàn bà. (LE GENERALISTE
16/4/2009)
4/ SINH NHIỀU CON GÁI HƠN
DƯỚI MẶT TRỜI NHIỆT ĐỚI.
REPRODUCTION. Một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ cho thấy rằng khí hậu
đóng một vai trò lên giới tính của các em bé.
Những cặp vợ chồng sống dưới bầu trời nhiệt đới có nhiều cơ may hơn những
cặp sống ở Âu Châu, có một đứa con nữ giới. Đó là kết luận của một công
trình nghiên cứu dịch tễ học, được công bố trong tạp chí chuyên khoa Anh
Biology Letters. Mặc dầu được công bố ngày 1/4/2009, nhưng công trình
điều tra này, được thực hiện bởi thầy thuốc chuyên khoa nội tiết Kristen
Navara, thuộc Đại học Georgie (Hoa Kỳ), không phải là một chuyện bông
đùa.
Nhà nghiên cứu nữ đã sưu tập các thống kê do Cơ quan tình báo trung ương
cung cấp. Cơ quan này đã trao cho bà số các trường hợp sinh gái và trai,
được đăng ký giữa năm 1997 và 2006 trong 202 nước. Nếu như trên thế giới,
các bé trai chiếm trung bình 51,3% những trường hợp sinh đẻ, con số này
thật ra có những chênh lệch tùy theo vĩ độ.
Như là trong vùng nhiệt đới, tỷ lệ sinh trai sụt xuống 51,1% những trường
hợp sinh đẻ và ngay cả xuống còn 50,8% ở châu Phi dưới Sahara, so sánh
với 51,4% ở châu Âu. Những sự khác nhau này vẫn tồn tại ngay cả khi ta
tính đến những sự ưa thích “ có tính chất văn hóa ”, như sự ưa thích có
con trai ở Trung Hoa hay Ấn Độ, là nơi nhiều thai nhi nữ được làm sẩy.
Cần ghi nhận rằng sự ưa thích sinh con trai hơn không những chỉ có ở các
nước châu Á mà còn được nhận thấy trong nhiều nước ở châu Phi.
Cái vấn đề về cái mà người ta gọi là “ tỷ suất giới tính ” (“ sex-ratio
”), nghĩa là chỉ số sinh học để chỉ tỷ lệ so sánh nam và nữ trong mỗi
loài đối với một thế hệ, đã làm say mê các nhà khoa học từ nhiều thập
niên nay. Vào thế kỷ thứ 19, nhà vật lý người Pháp Pierre Simon Laplace
đã so sánh các sổ đăng ký sinh đẻ của Paris và Luân Đôn. Năm 1930, người
Anh Ronald Fischer cũng đã quan tâm đến vấn đề này.
Ở Pháp ngày nay, người ta đếm được, vào lúc sinh, khoảng 105 con trai
đối với 100 con gái, trong khi đó ở Trung Hoa tỷ lệ này là 120 con trai
đối với 100 con gái. Bernard Jegou, chuyên gia về sinh sản ở Inserm và
ở đại học Rennes-I, cho rằng tài liệu xuất bản này của Anh là một phân
tích méta, nói một cách khác, là một sưu tập tư liệu đã có. “ Ý tưởng
đặt tương quan những kết quả này với các dữ kiện về nhiệt độ và độ sáng
(luminosité) là tài tình ” , ông ta đã nêu lên như vậy.
TUYẾN TÙNG (GLANDE PINEALE)
Nhà nghiên cứu nhắc lại rằng nơi các động vật hoang dại, nhưng cũng nơi
những động vật trong phòng thí nghiệm, người ta quan sát thấy rằng sự
sản sinh tinh trùng vào mùa hè nhiều hơn vào mùa đông. Hiện tượng này,
được liên kết với thời gian chiếu sáng, là do tuyến tùng (glande pinéale),
nằm trong não bộ, đóng một vai trò cơ bản trong việc điều hòa của nhịp
sinh học, nhất là bằng cách phát khởi sự sản xuất của các giao tử (gamètes).
Được tiết bởi tuyến tùng, mélatonine là chất trung gian được dùng để diễn
dịch những tác dụng của ánh sáng lên sự sinh sản.
“ Như thế, khi khoảng thời gian chiếu sáng kéo dài, thì tuyến tùng càng
được chiếu sáng. Trong phòng thí nghiệm của tôi, tôi quan sát nhận thấy
rằng, khi ta điều khiển thời gian để cho ánh sáng vẫn được thắp sáng,
ta sẽ làm dễ, nơi chuột hang (hamster), sự sinh các con đực và con cái.
Và khi tôi càng để ánh sáng được thắp sáng càng lâu, như thế tạo nên một
sự khác nhau quan trọng giữa ngày và đêm, thì các con chuột hang càng
sinh nhiều chuột cái ”, Bernard Jegou đã quan sát như thế. Thật đúng y
chang đối với những con người sống dưới bầu trời nhiệt đới. (LE
FIGARO 4-5/4/2009)
5/ CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG CỦA NGƯỜI MẸ
ẢNH HƯỞNG LÊN GIỐNG TÍNH CỦA EM BÉ.
Một chế độ ăn uống giảm calo (régime hypocalorique) vào lúc thụ thai làm
dễ sự sinh con gái.
Chọn lựa thức ăn để chọn lựa giới tính cho con mình : ảo ảnh hay thực
tế khoa học ? Bác sĩ Francois Papa, thầy thuốc chuyên khoa phụ sản ở nhà
Hộ sinh Port-Royal, Paris, chuyên gia về vấn đề này. Theo ông, có thể
“ chọn ” giới tính của con mình, bằng cách biến đổi chế độ ăn uống của
người mẹ. Chế độ con gái dựa trên một chế độ ăn uống giàu calcium, magnésium
và nghèo sodium và potassium. Tóm lại, tốt nhất là thích các sản phẩm
sữa...Bánh mì và biscottes không muối cũng được khuyến nghị. Sau hết nên
loại bỏ đồ thịt lợn (charcuterie), thịt, cá muối và tôm cua. Trái lại
chế độ con trai được dựa trên một chế độ ăn uống mặn, tránh các đồ sữa.
Vậy phải ưu tiên thịt và cá, bánh mì, các trái cây, đồng thời cấm sửa,
pho mát và bánh ngọt.
Lý thuyết về chế độ ăn uống này đã là đối tượng của một công bố trong
tờ báo của Viện Hàn Lâm Hoàng Gia Luân Đôn. Theo đó, chế độ ăn uống giàu
calo vào lúc thụ thai là một yếu tố thuận lợi cho việc sinh con trai,
trong khi một chế độ ăn uống giảm calo (régime hypocalorique) có khuynh
hướng chọn lọc con gái. Sự khám phá này có thể giải thích sự kiện là tỷ
suất giới tính (sex-ratio) đã bị biến đổi gần đây trong các nước công
nghiệp với tỷ lệ sinh con trai hơi ít hơn. Việc các thiếu nữ bị ám ảnh
phải có một thân hình mảnh mai cũng đã đóng một vài trò trong sự sinh
con gái.
CUNG CẤP THẤP CALO
Đại học Oxford đã nghiên cứu trường hợp của 720 phụ nữ Anh có thai lần
đầu và không biết giới tính của đứa con tương lai của mình. Tất cả phải
nhớ lại một cách rất chính xác những thói quen ăn uống của họ, trong những
tuần trước và sau khi thụ thai, Sau khi sinh, những mối tương quan giữa
các cung cấp thực phẩm và giới tính của đứa bé, đã cho phép phát hiện
sự kiện là 56% các trường hợp sinh là các bé trai trong nhóm các bà mẹ
đã tiêu thụ nhiều calo nhất, trong khi tỷ lệ này chỉ là 45% đối với những
bà mẹ đã được cung cấp calo thấp nhất trong thời kỳ thụ thai. Ngoài sự
việc hấp thụ nhiều calo nhất, nhiều bà mẹ sinh con trai hơn, đã ăn nhiều
loại thức ăn và các chất dinh dưỡng hơn, gồm có nhiều potassium, calcium,
vitamine C, E và B12 hơn. Các nhà nghiên cứu cũng đã có thể phát hiện
một tương quan mạnh mẽ giữa sự tiêu thụ đồ ngũ cốc vào bữa ăn sáng và
sự sinh con trai. (LE FIGARO 4-5/4/2009)
6/ THÁCH THỨC MỚI CỦA NHỮNG NGƯỜI
RẤT LÃO NIÊN ?
Ở Pháp, người ta ước tính rằng có từ 15.000 đến 20.000 người bách niên
(centenaire). Nhưng các dữ kiện không được chính xác lắm vì lẽ, khác với
Nhật bản, Pháp không có các sổ đăng ký dân số. Ở đất nước Phù tang, người
ta đếm được 36.000 người bách niên trên 130 triệu dân. Ở Hoa Kỳ, người
ta ước tính số người bách niên là hơn 60.000 người và ở Anh hơn 9000.
Sự gia tăng của một dân số rất già cả (une population très âgée) tạo nên
một vấn đề mà xã hội của chúng ta đã không được chuẩn bị để đương đầu.
Ngoài những vấn đề hoàn toàn thuần y khoa, chính khía cạnh xã hội và tâm
lý là ít được xét đến nhất. Bằng cớ, công trình nghiên cứu của các nhà
nghiên cứu của đại học Temple ở Philadelphie, đã hỏi 244 người bách niên
và đã đặc biệt phân tích những tiêu chuẩn khác nhau xác định chứng trầm
cảm : rối loạn giấc ngủ, cảm giác ăn ngon, buồn bã, sự thu rút mình lại…
Các kết quả của họ, được trình bày nhân hội nghị hàng năm vừa qua của
hiệp hội lão khoa Hoa Kỳ, cho thấy rằng nhiều điều cần phải làm để cải
thiện sự thoải mái của những người rất già cả. Họ đã có thể đánh giá rằng
cứ bốn người bách niên thì có một người, (hoặc 25% người được hỏi), bị
những rối loạn trầm cảm, trong khi chỉ 8% trong số họ trước đây đã có
một chẩn đoán trầm cảm. Đối với các tác giả, chứng trầm cảm nơi những
người rất già cả phần lớn không được điều trị đầy đủ, trong khi những
rối loạn này có thể được điều trị bởi một hỗ trợ xã hội-tâm lý (soutien
sociopsychologique) (LE FIGARO 8/4/2009)
7/ MARAVIROC, MỘT VŨ KHÍ MỚI CHỐNG
VIRUS BỆNH SIDA.
G.S Jacques Reynes, trưởng khoa các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới của
CHU de Montpellier, giải thích cơ chế tác dụng của thuốc mới antirétroviral,
vừa mới được thương mãi hóa ở Pháp, dành cho những bệnh nhân đề kháng
với các liệu pháp ba thứ thuốc (trithérapie) cổ điển.
Hỏi : Ở Pháp, ngày nay có bao nhiều người bị nhiễm bởi
HIV được điều trị ?
G.S Jacques Reynes : Trên 95.000 bệnh nhân dương tính được biết, khoảng
80% hôm nay đang được điều trị. Những người không được điều trị, hoặc
có một hệ miễn dịch không biện minh cho sự điều trị (với những tế bào
lympho T4 bình thường), hoặc một virus đã trở nên đề kháng với liệu pháp
phối hợp 3 loại thuốc (trithérapie). Vài bệnh nhân có thể có một lập trường
từ chối điều trị.
Hỏi : Ông có thể nhắc lại cho chúng tôi tại sao HIV lại
khó có thể trừ khử như thế ?
G.S Jacques Reynes : Lý do chính là virus HIV thiết lập bên trong tế bào
một bản sao (copie) chất liệu di truyền (matériel génétique), cho phép
nó tăng sinh. Và mặc dầu liệu pháp phối hợp 3 loại thuốc (trithérapie)
hiện nay thành công ức chế sự tăng sinh của virus, nhưng điều trị không
thể thành công phá hủy vật liệu di truyền tồn tại vô hạn định. Ngay khi
ngừng điều trị, các phần tử virus (particules virales) được sản xuất trở
lại.
Hỏi : Những giai đoạn khác nhau của một quá trình nhiễm
khuẩn của HIV là gì ?
G.S Jacques Reynes : Có 5 giai đoạn. 1. Virus cố định vào thụ thể (récepteurs)
CD4 và các đồng thụ thể (corécepteurs) CCR5 hay CXCR4 của tế bào của hệ
miễn dịch mà nó gây nhiễm . 2. Vỏ của vi khuẩn kết hợp với màng của tế
bào bia (cible cellulaire), đưa một phần chất liệu di truyền của nó và
3 men (enzymes) chủ chốt vào bên trong tế bào. 3. Một khi đã vào trong
tế bào, chất liệu di truyền của HIV được sao chép bởi một trong các men
của nó, transcriptase inverse. Rồi thì bản sao này sẽ đi vào trong nhân
của tế bào miễn dịch và hội nhập vào chất liệu di truyền người (ADN) nhờ
một men virus thứ hai, intégrase. 4. Bản sao ra lệnh cho tế bào chế tạo
những thành phần của một virus mới. 5. Sự sản xuất cuối cùng của HIV được
thực hiện với sự can thiệp của một men thứ ba, protéase của virus. Phép
trị liệu ba thứ thuốc (trithérapie) hiện nay gồm những thuốc được cho
bằng đường miệng, tác dụng lên 3 men chủ chốt này. Trong số các chất chống
virus này, AZT và các dẫn xuất của nó, các antiprotéases, các anti-intégrases.
Hỏi : Những kết quả với liệu phát ba thứ thuốc thường
dùng là gì ?
G.S Jacques Reynes : Với 3 chất kháng virus (antiviraux), trong thời gian
đầu, người ta ức chế được sự tăng sinh của virus : 90% những người được
điều trị hiện có một trọng tải virus (charge virale) không phát hiện được,
với những tác dụng phụ ít hơn nhiều những tác dụng phụ xảy ra nơi những
bệnh nhân trong những năm 1996 đến 2000 (các rối loạn tiêu hóa và của
chuyển hóa mỡ, các nguy cơ tim mạch). Nhưng tiếc thay, HIV có khả năng
biến hóa và như thế thoát được hệ miễn dịch. Bệnh nhân trở nên đề kháng
với hệ miễn dịch. Khi đó người ta cho bệnh nhân một phối hợp các thuốc
khác thuộc những lớp dược học khác nhau. Chính nhu cầu thường trực phải
biến đổi điều trị này biện minh cho việc tìm kiếm liên tục những thuốc
kháng virus mới.
Hỏi : Tác dụng của maraviroc, thuốc kháng virus vừa mới
được thương mãi hóa là gì ?
G.S Jacques Reynes : Đó là dược phẩm đầu tiên của một lớp các thuốc mới,
các anti-CCR5. Thuốc tác động bằng cách gắn vào các đồng thụ thể CCR5,
các “ cánh cửa vào ” nằm ở bề mặt của các tế bào của hệ miễn dịch (nhất
là các tế bào lympho T4), và ngăn cản virus đến lượt nó gắn vào. Như thế
thuốc mới này chỉ có thể cấp cho những bệnh nhân mà HIV sử dụng một cách
đặc hiệu các đồng thụ thể này (50-80% các bệnh nhân). Để biết điều đó,
thầy thuốc phải cho bệnh nhân làm một xét nghiệm máu. Maraviroc, được
dùng bằng đường miệng với các thuốc kháng virus khác, có một đặc điểm
: nó là thuốc đầu tiên không còn nhắm vào một yếu tố của virus nữa, mà
vào một thành phần của tế bào miễn dịch.
Hỏi : Những công trình nghiên cứu được thực hiện về maraviroc
là gi ?
G.S Jacques Reynes : Những thử nghiệm đã được tiến hành trong hơn hai
năm, nơi hơn 1000 bệnh nhân thất bại với liệu pháp ba thứ thuốc và được
chia thành ba nhóm. Nhóm đầu tiên đã nhận hai hay ba loại thuốc kháng
virus cổ điển, kết hợp với maraviroc, hai lần mỗi ngày. Nhóm thứ hai đã
nhận cũng hai hay ba thuốc kháng virus, phối hợp với maraviroc nhưng chỉ
một lần mỗi ngày. Nhóm thứ ba là một nhóm chứng đã nhận một liệu pháp
ba thứ thuốc (trithérapie) cổ điển không có maraviroc. Tất cả trước hết
được xét nghiệm máu đã cho thấy rằng các virus của họ đúng là sử dụng
đồng thụ thể CCR5.
Hỏi : Những kết quả thu được là gi ?
G.S Jacques Reynes : Trọng tải virus (charge virale) đã giảm mười lần
nơi những bệnh nhân đã dùng maraviroc, ngoài các thuốc kháng virus thông
thường. Người ta đã không nhận thấy những tác dụng phụ bổ sung liên kết
với việc cho loại thuốc mới này.
Hỏi : Những chỉ định đặc hiệu đối với sự sử dụng maraviroc
là gi ?
G.S Jacques Reynes : Khi kết hợp maraviroc với các thuốc mới đây, người
ta sẽ có thể hiệu chính những liệu pháp ba thứ thuốc mới hiệu quả nơi
những bệnh nhân hiện đang đề kháng với các điều trị quy ước. Việc xuất
hiện loại thuốc này trên thị trường sẽ làm phong phú kho các vũ khí chống
lại HIV. (PARIS MATCH 2/4-8/4/2009) Đọc
thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr96.htm
(TSYH 96, bài số 4)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr91.htm
(TSYH 90 bài số 7)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr89.htm
(TSYH 89, bài số 7)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr81.htm
(TSYH 81, bài số 8)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr78.htm
(TSYH 78, bài số 8)
8/ MỘT HƯỚNG ĐỂ LÀM CHẬM
LẠI THỜI KỲ MÃN KINH.
Phải chăng chẳng bao lâu nữa thời kỳ mãn kinh đối với các phụ nữ sẽ chỉ
còn là một kỹ niệm lịch sử mơ hồ ? Câu trả lời không được rõ ràng. Tuy
vậy, các nhà nghiên cứu Trung Quốc của đại học Thượng Hải vừa công bố
trong tạp chí Nature Cell Biology những kết quả cho thấy rằng, nơi chuột
cái vô sinh, có thể ghép các tế bào gốc mầm (cellulules souches germinales)
của buồng trứng, cho phép sinh con đẻ cái.
Thời kỳ mãn kinh (ménopause) là thời kỳ ngừng phóng noãn và ngừng tiết
các hormones của buồng trứng. Thời kỳ này xảy ra vào khoảng 51 tuổi, nhưng
trung bình sự sụt giảm khả năng sinh sản (fertilité) đã bắt đầu 10 năm
trước đó. Ngày nay nhiều thiếu nữ do muốn làm hoãn lại tuổi làm mẹ, vì
thế họ đã phải đương đầu với nhiều khó khăn để có thể thụ thai.
Cách nay vài năm, các nhà nghiên cứu người Anh đã thành công thu được
các noãn bào (ovocytes) chín mùi từ các tế bào gốc của buồng trứng của
những phụ nữ trưởng thành. Một bước tiến vừa được vượt qua với những công
trình của những nhà nghiên cứu Trung Quốc này. Trước hết họ đã tách những
tế bào gốc từ buồng trứng, bảo quản chúng trong phòng thí nghiệm, biến
đổi chúng, rồi ghép cho các chuột cái vô sinh. Sau đó những chú chuột
cái này có khả năng sinh ra những chú chuột con mạnh khỏe.
Khả năng áp dụng của những công trình như thế là gì ? Dĩ nhiên đó là để
điều trị bệnh vô sinh phụ nữ do thiếu hụt buồng trứng. Tại sao không điều
trị các phụ nữ quyết định chờ đợi rồi mới có thai và khi đó ta sẽ cất
giữ các tế bào gốc buồng trứng của họ trong phòng thí nghiệm. Sau hết,
ta có thể tưởng tượng ra rằng có thể làm lùi lại tuổi mãn kinh. Nhưng
cũng nên biết rằng sẽ có một nguy cơ, kể cả với những hormone tự nhiên,
gia tăng của ung thư vú. (LE FIGARO 15/4/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr76.htm
(TSYH 76, bài số 3)
9/ CÀ PHÊ : NHỮNG TÁC DỤNG NÀO
LÊN HỆ TIÊU HÓA ?
Cà phê là một nước uống rất được đánh giá bởi nhiều người. Cà phê đã bị
loại ra khỏi chế độ ăn uống của những người bị loét dạ dày. Thế thì tác
dụng của nó lên hệ tiêu hóa như thế nào ? Để biết rõ hơn, chúng tôi đã
gặp G.S René Fiasse (Khoa Dạ dày-ruột, Cliniques St-Luc, UCL) và B.S Rachid
Benabdillah, phóng viên y tế theo dõi tài liệu y học về vấn đề này. Họ
đã cùng nhau trả lời những câu hỏi của chúng tôi.
Sự hiện diện của các bệnh đường tiêu hóa trong quá khứ đã buộc người bệnh
phải chịu các hạn chế đối với cà phê. Nhiều công trình nghiên cứu đã cho
thấy rằng thứ nước uống này không có liên hệ trong những rối loạn ruột,
những rối loạn dạ dày và sự sinh ung thư tụy tạng. Tuy nhiên, cà phê có
thể gây nên ợ nóng (pyrosis).
Hỏi : Theo kiến thức của các ông, cà phê
có hại cho ruột già hay không ?
BS Benabdillah : Trái lại, những công trình nghiên cứu khác nhau đã chứng
minh tác dụng có lợi của cà phê lên ruột già. Những kết quả của một công
trình nghiên cứu, được thực hiện bởi Brown và các cộng sự viên trên 99
người, về mối tương quan giữa việc uống các loại nước uống khác nhau,
nhất là cà phê, và số lần đi cầu, đã phát hiện nơi gần 1/3 những người
này, một sự cải thiện của sự vận chuyển tiêu hóa. Nơi những người đáp
ứng, một tác dụng có lợi của cà phê trên tính di động ruột già đã có thể
được chứng tỏ bằng những đo lường động học. Rao và các cộng sự viên đã
quan sát thấy rằng cà phê không có caféine (café décaféiné), cũng như
cà phê bình thường, kích thích tính di động ruột già nơi những người đáp
ứng, nhưng hiệu quả của cà phê bình thường rõ rệt hơn hiệu quả của cà
phê không có caféine. Công trình nghiên cứu này cũng đã cho thấy rằng
tác dụng dương tính của cà phê là 60% quan trọng hơn so với uống nước
thường. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã thường báo cáo rằng cà
phê có một tác dụng kích thích lên hoạt động của ruột già nơi một vài
bệnh nhân. Trong số những công trình này, một sự duyệt xét lại vấn đề,
được thực hiện bởi Dapoigny và các cộng sự viên, đã gợi ý rằng cà phê,
dầu là bình thường hay không có caféine, có thể được liên kết với những
trường hợp ỉa chảy, do kích thích hoạt động của ruột già và trực tràng.
Theo Boekeman và các cộng sự viên, cà phê kích thích tính di động của
trực tràng và kết tràng sigma trong 4 phút sau khi uống nơi vài người.
(GLEM 12/2008-1/2009) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr92.htm
(TSYH 92, bài số 3).
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr87.htm
(TSYH 87, bài số 4)
10/ GHÉP MẶT VÀ BÀN TAY
PREMIERE MONDIALE. Lần đầu tiên
trên thế giới, một bệnh nhân đã được ghép đồng thời mặt và hai cẳng tay.
Đây là ghép dị loại (allogreffe) lần thứ sáu của lịch sử.
Nhóm phẫu thuật của giáo sư Laurent Lantieri và của bác sĩ Jean-Paul Meningaud
(Henri Mondor, Créteil) đối với mặt và nhóm của BS Christian (Hôpital
Saint-Antoine, Paris) đối với các bàn tay, đã thực hiện trong đêm thứ
bảy, một phẫu thuật ghép một phần của mặt và của hai bàn tay trên cổ tay,
trên một người đàn ông 30 tuổi. Đó là phẫu thuật đầu tiên trên thế giới.
Can thiệp ngoại khoa đã huy động 40 người và kéo dài 30 giờ. Cuộc phẫu
thuật ghép này được thực hiện nơi một người đàn ông 30 tuổi bị bỏng nặng
sau một tai nạn vào năm 2004. Giáo sư Benoit Lengelé, giáo sư của UCL,
là trưởng khoa lâm sàng của các cliniques Saint-Luc (Bỉ) và trưởng phòng
hình thái học thí nghiệm. Ông là một trong những tác giả của phẫu thuật
ghép mặt dị loại (allogreffe) đầu tiên của lịch sử, vào tháng 11 năm 2005.
Hỏi : Đó là phẫu thuật ghép mặt thứ sáu trên
thế giới, nhưng là phẫu thuật ghép đồng thời mặt và hai bàn tay đầu tiên
nơi cùng một bệnh nhân. Phải chăng đó thật sự là một biến cố ?
Giáo sư Benoit Lengelé : Cuộc giải phẫu này phối hợp tính phức tạp cơ
bản của mỗi phẫu thuật, mặc dầu những kỹ thuật này bây giờ đã được biết
đến và đã được thử thách. Các kỹ thuật tinh tế và được cải thiện, nhưng
giáo sư Dubernard đã thực hiện những phẫu thuật ghép hai bàn tay từ năm
2000. Sự phức tạp phải quy tụ hai hoặc ngay cả ba nhóm mổ cùng lúc, hẳn
buộc phải có một tổ chức phức tạp. Cần phải chào mừng thành tích đó. Nhưng
chúng ta đang ở trong một biến cố hơn là đang vượt qua một hàng rào khoa
học thật sự mà cuộc phẫu thuật ghép dị loại (allogreffe) đầu tiên đã thực
hiện.
Hỏi : Tại sao thế ?
Giáo sư Benoit Lengelé : Đối với nguy cơ thải bỏ (risque de rejet). Mối
nghi ngờ mà chúng ta có, đó là nguy cơ thải bỏ một bộ mặt, bởi vì đó là
ghép gồm các mô đủ loại (greffe de tissus composites). Vì vật ghép là
một vật lạ , nên cần cho bệnh nhân các thuốc hủy bỏ miễn dịch (immunosuppresseurs),
để cho bệnh nhân chịu đựng được cuộc xâm nhập mà cơ thể phản ứng lại.
Nhưng thận hay gan được cấu tạo bởi một loại mô duy nhất, trong khi bàn
tay hay mặt được cấu tạo bởi da, cơ , mỡ hay niêm mạc, những yếu tố mà
tính sinh kháng nguyên (antigénicité), khả năng các kháng nguyên được
chứa trong các mô của nó được nhận diện bởi hệ miễn dịch, là phức tạp
hơn và khó hơn. Phải cho thuốc hủy bỏ miễn dịch nào đây trong một ghép
mặt đầu tiên ? Đó là một bước nhảy vào chân không.
Hỏi : Nhưng các cuộc phẫu thuật ghép đã diễn
biến tốt, vì lẽ trong số 6 bệnh nhân đầu tiên, chỉ có một bệnh nhân chết
vì ngưng điều trị.
Giáo sư Benoit Lengelé : Thật vậy, bệnh nhân người Trung Quốc đã chịu
hai lần thải bỏ và đã được kiểm soát, nhưng anh ta sau đó đã không theo
điều trị này. (LE SOIR 7/4/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr88.htm
(TSYH 88, bài số 3)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (17/4/2009)
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |