 |
Thời
Sự Y Học số 123
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ ĐÂU LÀ NHỮNG BÍ QUYẾT
ĐỂ TRỞ THÀNH BÁCH NIÊN ?
SANTE PUBLIQUE. Những người trăm tuổi là những người hướng ra ngoại giới
(extraverti) hơn những người khác, theo một công trình nghiên cứu của
Hoa Kỳ.
Nhiều công trình nghiên cứu khoa học, trong nhiều năm qua, đã quan tâm
về những đặc điểm của những người bách niên, phân tích lối sống của họ
hay giải mã các gène của họ. Lần đầu tiên, các nhà nghiên cứu đã quyết
định nghiên cứu về tâm lý học của những người sống trên hơn một thế kỷ
này và đã phát hiện vài đặc điểm, như sự kiện là những người bách niên
thường hướng ra ngoại giới (extraverti) hơn hoặc ít bị loạn thần kinh
(névrose) hơn những người khác. Các thầy thuốc chuyên về lão khoa của
đại học y khoa Boston, Hoa Kỳ, đã công bố các công trình của họ trong
Journal of the American Geriatrics Society, lập luận rằng cá tính (personnalité)
ảnh hưởng lên tuổi thọ (espérance de vie).
Để đi đến một kết luận như thế, nhóm của Thomas Perl, người lãnh đạo cửa
công trình nghiên cứu những người bách niên của Nouvelle-Angleterre, đã
hỏi gần 250 người tuổi trung bình 75, tất cả là hậu duệ của những người
bách niên. Thật vậy chúng ta biết rằng chính trong những gia đình của
những người bách niên mà những người bách niên khác được tuyển mộ. Sau
công trình phân tích lượng và chất của những cuộc mạn đàm này, các nhà
nghiên cứu đã đi đến ý nghĩ rằng trong những gia đình của những người
bách niên, người ta ít bị loạn thần kinh (névrose) hơn và hướng về ngoại
giới nhiều hơn (extraverti). “Có lẽ chính điều đó có một tác dụng có lợi
lên sự lão hóa, Thomas Perl đã đánh giá như vậy. Thí dụ, những người ít
bị loạn thần kinh (névrosé) hơn, quản lý tốt hơn tình trạng stress của
mình. Là những người hướng ra ngoại giới (extravertis), nên họ có nhiều
bạn bè hơn.” Nhà nghiên cứu cho rằng sẽ là thích thú khi thêm vào trong
các công trình nghiên cứu về sự lão hóa những tham số này, ngoài những
tham số đã được nghiên cứu một cách truyền thống, như những yếu tố di
truyền và môi trường.
SỐNG TRONG MỘT NƯỚC GIÀU CÓ, LOẠI DÂN CHỦ-XÃ HỘI.
Françoise Forette, giáo sư lão khoa của đại học Paris-V và nữ giám đốc
của Cơ quan lão học quốc gia, không nói gì khác khi bà giải thích rằng
để đạt được 100 tuổi, “phải ham muốn sống, phải lạc quan”. Mặc dầu ta
chú ý nhiều đến cách ăn uống khi ca ngợi các ưu điểm của chế độ ăn uống
Địa trung hải hay Nhật bản, nhưng lãnh vực tâm thần (psychisme) không
được coi thường.
“Ngừng làm việc quá sớm không phải là một ý tưởng tốt, nữ bác sĩ chuyên
về lão khoa đã đánh giá như vậy. Bởi vì lúc về hưu, ta sẽ làm 10 điều
ít hơn so với khi ta làm việc, điều này độc hại cho các chức năng nhận
thức (fonction cognitive). Mà để sống 100 tuổi, phải có một bộ não tốt!”
Vào cuối thế kỷ XIX, đàn ông trung bình chết lúc 43 tuổi, và phụ nữ lúc
46 tuổi. Ngày nay, ở Pháp, tuổi thọ (espérance de vie) là 84, 3 đối với
phụ nữ và 77,5 đối với đàn ông. Mỗi năm, tuổi thọ này gia tăng từ một
đến 3 tháng. Vậy người ta ước tính rằng cứ 2 bé gái được sinh ra đời năm
2003 thì một sẽ trở nên bách niên về sau này. Vậy vấn đề không phải là
tìm biết xem sự gia tăng số lượng của những người trăm tuổi có phải là
một điều tốt hay không, và phải xem làm sao có thể lão hóa nhưng đồng
thời vẫn giữ nguyên vẹn càng lâu càng tốt các năng lực của mình. “ Hầu
hết các bệnh, làm u tối sự lão hóa, có thể được ngăn ngừa ”, Françoise
Forette đã nêu lên như vậy. Chính trong suốt cuộc đời và ngay cả ngay
lúc còn rất trẻ mà chúng ta có thể tập luyện để lão hóa tốt.
Nhà dân số học Jean-Marie Robine, giám đốc của phòng dân số và sức khỏe
của Inserm, nhấn mạnh tầm quan trọng, để sống già, được sống trong một
nước giàu có, thuộc loại dân chủ-xã hội. “ Có một sự tương quan giữa sự
phân phối của cải và tuổi thọ. Nhật Bản, đất nước trong đó phụ nữ trung
bình sống đến 86 tuổi và đàn ông 79,2 tuổi, là một nước dân chủ-xã hội
rất bình đẳng.” Ông ghi nhận rằng ở Anh, ở Hoa Kỳ và ở Brésil, nơi mà
tỷ suất giữa những người giàu có nhất và những người nghèo khó nhất kiếm
được, có thể lên đến 20 (so với 2 ở Nhật Bản và 3 ở Pháp), tuổi thọ trong
những nước này thấp hơn. Ở Anh, tuổi thọ đối với phụ nữ 3 năm ít hơn so
với Pháp và ở Hoa Kỳ, 5 năm ít hơn. “Chế độ ăn uống là không chủ yếu để
trở thành bách niên. Trái lại, y học dự phòng là cơ bản. Ở Nhật Bản, trong
xí nghiệp, những người ăn lương, mỗi năm làm check-up toàn bộ một lần,
cho phép phát hiện rất sớm tất cả mọi loại bệnh lý”, Jean-Marie Robine
đã tâm sự như vậy (LE FIGARO 8/4/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr104.htm
(TSYH 104 bài số 3).
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr95.htm
(TSYH 95, bài số 4)
2/ BMI GIỮA 22,5 VÀ 25 BẢO ĐẢM
SỐNG LÂU.
Nếu người ta đánh giá tỷ lệ tử vong theo chỉ số khối lượng cơ thể (BMI
: body mass index), người ta sẽ có được một đường cong hình chữ J, với
một tỷ lệ sống sót tối ưu khi BMI nằm giữa 22,5 và 25 kg/m2. Những trị
số cao của BMI được liên kết với một tỷ lệ tử vong lớn hơn, nhất là do
một bệnh lý mạch máu. Đó là điều vừa được chứng tỏ bởi một công trình
nghiên cứu, được công bố trong Lancet ngày 18/3.
Một chứng béo phì mức độ trung bình (BMI từ 30 đến 35) đi đôi với một
sự giảm sút 3 năm tuổi thọ. Những người với béo phì cực kỳ (BMI từ 40
đến 50) sống 10 năm ít hơn, một con số giống với con số cho những người
nghiện thuốc lá thâm niên.
Các tác giả đã phân tích các dữ kiện của 57 công trình nghiên cứu, được
tiến hành tổng cộng trên 894.576 người tham dự. Phần lớn những công trình
nghiên cứu này diễn ra ở Tây Âu và Bắc Mỹ. 6 người tham dự trên 10 là
đàn ông. Tuổi trung bình vào lúc tuyển mộ (giữa năm 1975 và 1985) là 46
tuổi và BMI là 25.
Các nhà nghiên cứu đã thực hiện những điều chỉnh đối với những yếu tố
khác nhau như tuổi tác, giới tính, hành vi hút thuốc lá. Ở nơi đàn ông
cũng như phụ nữ, nhóm có tỷ lệ tử vong thấp nhất là một BMI nằm giữa 22,5
và 25. Mỗi gia tăng 5kg/m2 của BMI đi đôi với một gia tăng tỷ lệ tử vong
khoảng 30% : 40% do một bệnh mạch máu, 60-120% do một bệnh đái đường,
các bệnh lý thận và gan, 10% do ung thư và 20% do những bệnh đường hô
hấp và những bệnh khác. Trong trường hợp BMI < 22,5-25, tỷ lệ tử vong
cao hơn, nhất là do những bệnh liên kết với nghiện thuốc lá, như những
bệnh đường hô hấp và ung thư phổi. (LE JOURNAL DU MEDECIN
21/4/2009) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr91.htm
(TSYH 91, bài số 5)
3/ MỘT ĐIỀU TRỊ CÁCH MẠNG CHỐNG
LẠI CÁC U MẠCH (HEMANGIOME)
DERMATOLOGIE : Các thầy thuốc người Pháp đã khám phá do tình cờ một phép
điều trị căn cứ trên các bêta-bloquants, cách mạng hóa việc điều trị loại
“vết rượu vang” (tache de vin) này của trẻ em. Vài em bé sinh ra đời với
một bọc mạch máu to tướng, màu đỏ rượu vang, thường nhất là trên da. Đó
là một u mạch (hémangiome), nói chung thoái biến trong vòng 10 năm, sau
khi đã là nguyên nhân của một vẻ xấu xí khủng khiếp đối với đứa bé, hay
tệ hai hơn, của một tật nguyền chức năng thật sự khi thương tổn nằm không
đúng chỗ.
Mãi đến ngày nay, những u mạch (hémangiome) này đã được điều trị thành
công ít hay nhiều nhờ các corticoides, hoá học liệu pháp, kể cả ngoại
khoa nếu cần. Trong khi 10% các trẻ sơ sinh có một u mạch (thường là kích
thước nhỏ), thì 5% các trẻ với u mạch chịu một thể nặng hay biến chứng,
cần đến một trị liệu hung hãn.
Vào năm 2007, một trẻ sơ sinh 3 tháng đến khoa Da của bệnh viện Bordeaux
vì một u mạch quan trọng ở mũi làm tắc nghẽn đường hô hấp. Vài ngày sau
khi bắt đầu điều trị bằng corticoides, đứa bé bị bệnh cơ tim (myocardiopathie)
do dùng thuốc quá liều lượng. Khi đó thầy thuốc khoa tim tiến hành điều
trị bằng bêtabloquant, một lớp thuốc được sử dụng trong khoa tim , để
làm dễ công của cơ. Và kia kìa, như một điều kỳ diệu diễn ra dưới đôi
mắt ngạc nhiên của Christine Léauté-Abrèze, thầy thuốc khoa Da ở Bordeaux,
trong khoa của G.S Alain Taieb, chuyên về các bệnh hiếm của da : trong
vài ngày, u máu bắt đầu co lại, thoái biến, giảm thể tích, thu nhỏ để
cuối cùng biến mất trong vài tuần.
HAI THÁNG ĐIỀU TRỊ
Một ít thời gian sau, một em bé thứ hai đến khoa với một khối u mạch to
tướng trên mặt, đã đề kháng với các thuốc thông thường được sử dụng. Sau
khi đã xin ý kiến của ủy ban đạo đức của bệnh viện nhi đồng Bordeaux,
G.S Taieb và nhóm nghiên cứu của ông đã quyết định thử điều trị bằng bêtabloquant.
Tác dụng “ thần kỳ ” lại xuất hiện dưới những đôi mắt kinh ngạc của nhóm
điều dưỡng. Sau khi đã điều trị như thế 11 trẻ em với cùng phương cách,
với cùng kết quả, nhóm nghiên cứu người Pháp đã công bố những kết quả
dưới dạng một lá thư trong New England Journal of Medicine (NEJM), ngày
12 tháng 6 năm 2008.
Trong vài ngày nữa, sẽ được công bố trong Pediatrics, một tạp chí khác
của Hoa Kỳ, câu chuyện về kinh nghiệm của những thầy thuốc người Pháp,
trên 32 bệnh nhân đầu tiên (trung bình tuổi 4 tháng), đã hưởng phép điều
trị này. Sau bài báo đầu tiên của NEJM, nhiều thầy thuốc nhi khoa đã thử
nghiệm phương pháp điều trị này trên toàn thế giới. Tính đến nay, hơn
300 trẻ em trên hành tinh đã nhận loại thuốc này, với những kết quả ngoạn
mục cho mỗi trường hợp. Trong bài báo của Pediatrics, các nhà nghiên cứu
người Pháp kết luận rằng u mạch (hémangiome) biến mất trung bình sau hai
tháng điều trị. Hầu hết các trẻ em được điều trị bởi loại thuốc này trung
bình trong 6 tháng.
“ Kinh nghiệm của chúng tôi được phổ biến rộng rãi khắp nơi trên thế giới,
G.S Taieb đã đảm bảo như vậy. Mỗi tuần chúng tôi đã nhận những lá thư
mô tả hàng chục các trường hợp được điều trị. Hiệu quả là 100%. Liều lượng
của bêtabloquant là 2-3 mg/kg. Và chúng tôi có rất ít những tác dụng phụ.
Trong một trường hợp, điều trị đã phải dừng lại vì một cơn hen phế quản.
Vậy phải rất thận trọng đối với những trẻ có một thể trạng dị ứng. Nguy
cơ khác của bêtabloquant, đó là hạ đường huyết. Chúng tôi cũng đã quan
sát 3 trường hợp tái phát lúc ngừng điều trị”. Một công trình nghiên cứu
rộng lớn nhiều trung tâm vừa được phát động ở Châu Âu và Hoa Kỳ để xác
nhận những dữ kiện này. Điều trị này dành cho những thể nặng. Hiện nay,
một bêtabloquant dùng tại chỗ đối với những thể nhẹ của u máu, đang được
nghiên cứu. “Khám phá này có tính chất cách mạng, BS Claudine Blanchet-Bardon,
thầy thuốc chuyên khoa Da ở bệnh viện Saint-Louis de Paris đã phát biểu
như vậy. Nhưng một đơn thuốc như vậy phải được thực hiện bởi một thầy
thuốc chuyên khoa Tim nhi đồng, theo đề nghị của một thầy thuốc chuyên
khoa Da, vì lẽ những nguy cơ của các bêtabloquant đối với những trẻ em
nhỏ tuổi. (LE FIGARO 17/3/2009)
4/ UỐNG RƯỢU BỊ TRANH CÃI NƠI PHỤ
NỮ.
Một công trình nghiên cứu trên hơn 1 triệu phụ nữ ở Vương Quốc Anh gợi
ý rằng việc tiêu thụ rượu, ngay cả với những lượng nhỏ, làm gia tăng nguy
cơ phát triển vài loại ung thư. Naomi Allen và những cộng sự viên (Đại
học Oxford) đã phân tích các dữ kiện có liên quan đến 1.280.296 phụ nữ
tuổi trung niên, đã tham dự vào công trình nghiên cứu Million Women Study.
Nhìn toàn thể, những người tham dự uống khoảng một ly mỗi ngày. Một tỷ
lệ thấp hơn trong số những người tham dự đã uống 3 ly hoặc nhiều hơn mỗi
ngày, 24% đã không bao giờ uống rượu. Trong một thời kỳ theo dõi trên
7 năm, 68.775 phụ nữ đã phát triển một ung thư. Trong số những phụ nữ
uống đều đặn dưới 3 suất rượu mỗi ngày, người ta quan sát thấy một sự
gia tăng 1,5% nguy cơ bị ung thư, đặc biệt là ung thư miệng, họng, thực
quản, hầu, trực tràng, gan và vú. Việc tiêu thụ rượu mỗi ngày càng gia
tăng, thì nguy cơ bị ung thư càng lớn. Những nguy cơ giống nhau dầu loại
rượu được uống là loại nào. Trái lại, uống rượu ít hay có mức độ, được
liên kết với sự giảm rõ rệt nguy cơ phát triển ung thư tuyến giáp và lymphome
non-Hodgkinien. (LE JOURNAL DU MEDECIN 21/4/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr74.htm
(TSYH 74, bài số 3)
5/ MỘT VIÊN THUỐC NGỪA THAI UỐNG
KHÔNG GIÁN ĐOẠN.
Một viên thuốc ngừa thai uống không gián đoạn (pilule contraceptive sans
interruption) sẽ cải thiện việc sử dụng và làm giảm các tác dụng phụ thông
thường.
Viên thuốc ngừa thai đã tròn 40 tuổi và đã trở thành phương tiện ngừa
thai được sử dụng nhất : trước đây 91% các phụ nữ người Bỉ đã nhờ đến
nó một ngày nào đó và 43% vẫn còn sử dụng nó ngày nay. Phải nói rằng ưu
điểm chính của nó là tính hiệu quả 99%, vượt quá tính hiệu quả của tất
cả những phương tiện ngừa thai khác hiện có.
Nhưng thuốc vận hành như thế nào ? Các hormone tổng hợp mà nó chứa, œstrogène
hay progestérone, đánh lừa cơ chế sản xuất hormone bình thường dẫn đến
sự phóng noãn. Nước nhớt (glaire) của tử cung trở nên ít tiếp nhận các
tinh trùng hơn và nội mạc tử cung chịu những biến đổi làm ngăn cản sự
làm tổ. Tuy nhiên, việc sử dung hormone không phải là không có những tác
dụng phụ, đôi khi quan trọng : một công trình nghiên cứu của Châu Âu đã
phát hiện rằng 1/3 các phụ nữ sử dụng viên thuốc ngừa thai đã bỏ nó sau
6 tháng sử dụng, chủ yếu bởi vì các phụ nữ sau khi dùng thuốc bị ứ nước,
làm gia tăng trọng lượng và gây căng ở vú. Những chứng đau đầu cũng thường
xảy ra, đôi khi cấp tính, và vài người sử dụng sợ hãi có thai ngoài ý
muốn khi thấy kinh nguyệt bị rối loạn hoặc bị giảm.
1/3 CÁC TRƯỜNG HỢP THAI NGHÉN NGOÀI KẼ HOẠCH Ở
BỈ LÀ DO VẤN ĐỀ KHÔNG TUÂN THỦ LÚC DÙNG THUỐC NGỪA THAI
Mặt khác, việc uống thuốc ngừa thai không phải luôn luôn dễ dàng. Người
ta khuyên uống viên thuốc đầu tiên vào ngày đầu của kinh kỳ. Sau khi uống
21 ngày, nghỉ uống 7 ngày và rồi bắt đầu lại một chu kỳ kinh nguyệt. Chắc
chắn không phải là dễ. “Một phần ba các thai nghén ngoài ý muốn ở Bỉ là
do vấn đề không tuân thủ (compliance) lúc dùng thuốc. Đến độ người ta
ước tính rằng 3.500 sẩy thai có thể tránh được nếu việc tuân thủ uống
thuốc được cải thiện ”
Một viên thuốc dễ uống hơn và với những tác dụng phụ ít hơn ? Đó là điều
mà những nhà sản xuất phương tiện ngừa thai này đang tìm kiếm. Và một
viên thuốc mới, được mệnh danh là Yaz, vừa mới đến trong các hiệu thuốc
của Bỉ. Bằng cách kết hợp hai “cái mới”. Cái mới đầu tiên là drospirénone,
một progestatif mà ưu điểm của nó đối với những hormone tổng hợp khác
là ở chỗ nó có một tác dụng “antiandrogénique”. Với tác dụng này, nó trung
hòa một phần lớn những tác dụng phụ gây nên bởi thành phần kia của viên
thuốc, estradiol. Mặt khác những liều lượng của thuốc cũng đặc biệt được
giảm xuống. Drospirénone có ưu điểm làm giảm nhiều chứng mụn thể trung
bình, và có tác dụng “antiminéralocorticoide”, làm giảm hội chứng tiền
kinh nguyệt (syndrome prémenstruel) (chứng thiên đầu thống, bực bội, rối
loạn giấc ngủ). Đến độ ở Hoa Kỳ, drospirénone được sử dụng cho hai chỉ
định này, ngoài chỉ định ngừa thai có hiệu quả. “Cái mới ” khác, đó là
không còn uống 21 viên rồi nghỉ 7 ngày nữa, mà uống liên tục 28 viên,
trong đó 24 viên chứa chất hoạt tính và 4 viên cuối là một placebo” (LE
SOIR 27/3/2009) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr98.htm
(TSYH 98, bài số 1)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr76.htm
(TSYH 76, bài số 5)
6/ THÊM KILO VÀ SA SÚT TRÍ TUỆ.
Những người đàn ông già, thân hình to lớn vạm vỡ chịu sự sa sút trí tuệ
nhanh hơn những người đồng loại nhưng thanh mảnh hơn. Điều này không đúng
với các phụ nữ.
Để có được một cái nhìn tốt hơn làm sao đường nét thân thể ảnh hưởng lên
hoạt động chức năng tâm thần nơi những người già bị bệnh sa sút trí tuệ
(démence), Alka Kanaya và các cộng sự viên (University of California,
San Francisco) đã tập hợp những dữ kiện liên quan đến 3.054 người đàn
ông và phụ nữ lành mạnh, tuổi từ 70 đến 79. Để thực hiện điều đó, họ đã
thiết lập BMI (chỉ số khối lượng cơ thể : body mass index), vòng thân
(tour de taille), khối lượng mỡ toàn thể, sự phân bố mô mỡ (dưới da, quanh
các cơ quan) và đường kính đứng dọc giữa (diamètre sagittal). Những người
tham dự phải chịu một trắc nghiệm nhận thức (test cognitif) lúc bắt đầu
công trình nghiên cứu. Trắc nghiệm này được lập lại 3,5 và 8 năm sau.
Các tác giả đã xác nhận rằng những trị số gia tăng của những tham số khác
nhau (BMI, vòng thân...) nơi những người đàn ông đi đôi với một sự gia
tăng của suy thoái nhận thức (une détérioration cognitive). Nơi các phụ
nữ, không có một mối liên hệ đáng kể nào đã có thể được phát hiện đối
với bất cứ một tham số nào. (LE JOURNAL DU MEDECIN
21/4/2009) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr99.htm
(TSYH 99, bài số 6)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr79.htm
(TYH 79, bài số 6)
7/ NHỮNG CHIẾN LƯỢC ĐỂ BẢO
TOÀN TRÍ NHỚ.
BS Bernard Croisile, trưởng khoa thần kinh-tâm lý của các bệnh viện Lyon,
giải thích trong cuốn sách của ông “ Tout sur la mémoire ” làm sao gìn
giữ những vòng neurone (circuits neuronaux).
Hỏi : Trí nhớ của chúng ta hoạt động như
thế nào ?
B.S Bernard Croisile. Các vòng tế bào thần kinh (circuits neuronaux) của
trí nhớ, chi phối 80% não bộ của chúng ta, can thiệp vào trong 3 giai
đoạn chính yếu. 1. Học tập (apprentissage) hay ghi mật mã (encodage).
2. Tích trữ (stockage). 3. Thu hồi (récupération) Suốt trong giai đoạn
đầu, người ta ghi (bằng một đường vòng bắt đầu ở hồi hải mã) những thông
tin của thế giới bên ngoài, được cảm nhận bởi các giác quan của chúng
ta và được liên kết với những cảm xúc bên trong mà chúng gây nên. Khung
cảnh cảm xúc đóng một vai trò quan trọng ! Giai đoạn thứ hai cho phép
bảo tồn (ở những vùng khác nhau của não bộ) những giai đoạn của đời sống,
những kiến thức văn hóa, những động tác quen thuộc, như chơi tennis hay
đạp xe đạp. Giai đoạn thu hồi (phase de récupération) (bắt đầu từ những
vùng trán của não bộ) cho phép tìm thấy lại một thông tin mà chúng ta
đang tìm kiếm nhưng cũng có thể tái xuất hiện bất ngờ khi chúng ta đối
đầu với cái mà người ta gọi là một kinh nghiệm cảm giác (expérience sensorielle),
như một mùi hay một bài hát.
Hỏi : Sau một lứa tuổi nào đó, những giai
đoạn khác nhau của quá trình ghi nhớ này bị biến đổi như thế nào ?
B.S Bernard Croisile : Mặc dầu các neurone không lão hóa một cách y hệt
nhau nơi tất cả các cá thể, nhưng rất thuờng chúng ta quan sát thấy rằng
những người già cần nhiều thời gian hơn để ghi những thông tin và cảm
thấy một vài khó khăn để tập trung vào điều mà họ mong muốn ghi nhớ. Quá
trình mật mã (encodage) trở nên gay go và các thông tin được tích trữ
bấp bênh hơn. Nhưng vấn đề thật sự, vấn đề làm khó chịu, nằm ở giai đoạn
thu hồi (phase de récupération), các lão niên khó tìm lại một vài chữ,
do đó họ thường phát biểu “tôi có nó trên đầu lưỡi” (je l’ai sur le bout
de la langue). Thông tin luôn luôn ở đó nhưng khó mà thu hồi được. Điều
này là do sự lão hóa của các neurone của các thuỳ trán. Nhưng những mất
nối kết thần kinh (connexions neuronales) do tuổi tác chỉ trở nên thật
sự tai hại kể từ một sự trụt giảm 40%, con số chỉ đạt được, đối với toàn
thể não bộ, vào lứa tuổi 130 hay 140 tuổi !
Hỏi : Trong một não bộ lành mạnh, để chữa
tạm những biến đổi của các neurone do lão hóa, có một hiện tượng bù không
?
B.S Bernard Croisile : Mặc dầu lúc lão hóa, não bộ chịu một sự mất mát
neurone của một vài vùng, đặc biệt là ở các thùy trán, nhưng may mắn thay,
não còn bảo tồn một khả năng tạo những nhánh nối và những neurone mới,
từ những tế bào gốc nằm trong vùng hải mã (hippocampe), những tế bào “
không biệt hóa ” (cellules indifférenciées), những tế bào chưa được biến
hóa thành các neurone. Khả năng đổi mới này, được khám phá vào năm 1998,
đã tạo nên một bước tiến rất quan trọng ! Dĩ nhiên quá trình đổi mới này
của neurone chỉ có thể được thực hiện nếu não bộ không bị làm thương tổn
bởi một đột qụy hay một bệnh thoái hóa như Alzheimer.
Hỏi : Sau 50 tuổi, những mất trí nhớ thông
thường nhất là gì ?
B.S Bernard Croisile : Không nên lo lắng khi chúng ta khó tìm ra một danh
từ riêng hay khi chúng ta không còn nhớ nữa là đã khóa cửa hay không.
Cũng không nên bối rối bởi vì chúng ta không còn biết nữa đến một căn
phòng để tìm kiếm cái gì hay khi chúng ta đã quên không biết đã đậu xe
ở nơi nào. Tất cả những sự mất trí nhớ thoáng qua này chỉ là do sự thiếu
chú ý mà thôi. Nơi vài người hơn 50 tuổi cũng có thể xảy đến những đợt
“đột qụy mất trí” (ictus amnésique), tương ứng với sự phong bế chức năng
của hồi hải mã trong vài giờ. Trong một nửa các trường hợp, đó là một
đợt mất trí nhớ được phát khởi bởi một xúc cảm mạnh và sẽ không để lại
một di chứng nào ngoại trừ sự quên vài giờ này.
Hỏi : Những lời khuyên của ông để bảo toàn
một trí nhớ tốt càng lâu càng tốt là gi ?
B.S Bernard Croisile : Trước hết, hãy giữ não bộ trong tình trạng tốt
bởi vì nếu chúng ta làm hư hỏng công cụ, chúng ta sẽ làm biến đổi chức
năng.
Để đạt được điều đó, cần phải điều trị, để loại bỏ chúng, tất cả những
yếu tố nguy cơ tim mạch : cao huyết áp, đái đường, tăng cholestérol-huyết,
nghiện thuốc lá…Huyết áp cần phải được theo dõi ngay ở tuổi 40. Não bộ
cần được kích thích đều đặn : một hệ thống neurone càng được sử dụng,
thì càng có nhiều nối kết giữa các neurone và vòng neurone (circuit neuronal)
càng vững chắc ! Trong cuốn sách của tôi, tôi khuyên có những môn giải
trí phong phú và đa dạng, đọc báo mỗi ngày, du lịch, duy trì một mạng
xã hội, chơi bài ; ngay cả làm vườn đã tỏ ra là một hoạt động hay đối
với não bộ ! Các neurone của chúng ta, để hoạt động đúng đắn, cũng cần
được nuôi dưỡng tốt. Cách ăn uống tốt là chế độ ăn uống Địa Trung hải
: trái cây, rau xanh (để được cung cấp vitamines A,C,E và những chất chống
oxy hóa), cá và một ít thịt đỏ. Một lời khuyên cuối cùng để mang lại cho
não bộ oxy mà nó cần đến : thực hiện mỗi ngày một hoạt động vật lý, như
là bước trong 30 đến 60 phút.
Hỏi : Những kẻ thù tệ hại nhất của trí nhớ
là gì ?
B.S Bernard Croisile : Điều gây hại nhất cho trí nhớ, đó là không sử dụng
nó. Cũng phải chống lại những tình trạng lo âu trầm cảm (états anxieux
dépressifs) ngăn cản sự tập trung. Khi tâm trí bị xâm nhập bởi tình trạng
lo âu, nỗi đau khổ, sự ghi mật mã (encodage) sẽ được thực hiện kém đi.
Những kẻ thù khác : rượu và những bệnh nhân tim mạch, làm hư hỏng cái
công cụ đáng quý biết bao là não bộ. (PARIS MATCH 9-15/4/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr100.htm
(TSYH 100, bài số 5)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr97.htm
(TSYH 97, bài số 3)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr95.htm
(TSYH 95, bài số 2)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr90.htm
(TSYH 90, bài số 5)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr85.htm
(TSYH 85, bài số 5)
8/ BABY BLUES (CHỨNG TRẦM
CẢM SAU KHI SINH) VÀ HORMONE
Tần số bị chứng trầm cảm sau khi sinh khoảng 10%. Một công trình nghiên
cứu của California đã đo nơi 100 phụ nữ mang thai vào tuần lễ thứ 15,19,25,31
và 37 những hormone khác nhau và đã phát hiện một mối tương quan rõ rệt
giữa nồng độ của một hormone của nhau thai, corticoliberine, và sự xuất
hiện chứng trầm cảm sau khi sinh (baby blues). (PARIS
MATCH 25/4-29/4/2009)
9/ MỘT HY VỌNG MỚI CHỐNG LẠI BỆNH
PARKINSON.
NEUROLOGIE. Sự kích thích tủy sống đã cho phép thu được những kết quả
rất hứa hẹn trên những động vật gặm nhấm bị thể người của bệnh Parkinson.
Sự kích thích tủy sống, một kỹ thuật thường được sử dụng trong ngoại thần
kinh để điều trị những đau đớn bất trị, có thể sẽ mở một hướng điều trị
mới trong bệnh Parkinson. Hiện nay, phương pháp này đã chỉ được trắc nghiệm
nơi chuột, nhưng những kết quả rất là chứng minh. “ Nếu như chúng ta có
thể chứng minh sự dung nạp tốt và tính hiệu quả lâu dài, thì hầu như tất
cả các bệnh nhân Parkinson sẽ có thể được điều trị bởi kỹ thuật này trong
một tương lai gần ”, Miguel Nicolelis, thuộc đại học Duke (Durham), một
trong những tác giả của bài báo đã đảm bảo như vậy. Do sự biến mất của
các neurones à dopamine trong một vùng đặc biệt của não bộ (locus niger),
bệnh Parkinson gây bệnh cho hơn 6 triệu người trên thế giới, trong đó
150.000 người Pháp. Bệnh thường khởi phát vào lứa tuổi 60. Là những nạn
nhân của các triệu chứng run lúc nghỉ ngơi (tremblement au repos), những
cử động chậm và sự cứng đờ một bộ phận của cơ thể, các bệnh nhân Parkinson
rất bị trở ngại trong cuộc sống hàng ngày.
MỘT LOẠI MÁY TẠO NHỊP
Những thuốc làm gia tăng nồng độ dopamine, như levo-dopa và các agonistes
dopaminergiques, cải thiện các triệu chứng, nhưng không phải là không
gây bất tiện. Về điều trị ngoại thần kinh, kỹ thuật kích thích vùng sâu
não bộ (stimulation cérébrale profonde), tuy có hiệu quả, nhưng chỉ dành
cho những trường hợp rất nặng. Thật vậy, việc cắm các điện cực vào các
nhân dưới đồi thị (noyau subthalamique) (chịu trách nhiệm về những rối
loạn vận động và sự cứng đờ), là rất tế nhị. Can thiệp có thể kéo dài
đến 10 giờ và có thể có biến chứng nhiễm trùng hay những vấn đề thần kinh.
Trong 15 năm ở Pháp, 3000 bệnh nhân đã được hưởng kỹ thuật này. Trái lại,
kỹ thuật kích thích tủy sống (stimulation médullaire), được trắc nghiệm
bởi nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ, có vẻ đơn giản và nhẹ nhàng hơn nhiều. Trong
kỹ thuật này, mà hiệu quả đã được chứng tỏ trong điều trị các đau đớn,
các điện cực được cắm vào lưng, trong một vùng ngoại biên của hệ thần
kinh : cột sau của tủy sống (cordon de la moelle épinière). Những điện
cực này được nối với một máy phát những xung động điện, một loại máy tạo
nhịp (pacemaker), được thiết đặt dưới da.
Được kích thích như thế bởi nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ, các chú chuột bị bệnh
Parkinson đã cải thiện khả năng vận động của chúng trong vòng chưa được
3 giây. Với tần số kích thích tốt hơn, các con vật đã tỏ ra hoạt động
26 lần nhiều hơn so với trước khi được kích thích. Và khi được kết hợp
với các loại thuốc, sự kích thích đã cho phép làm giảm một nửa liều lượng
nhưng vẫn có cùng tính hiệu quả. Theo các nhà nghiên cứu, những kích thích
tủy này tác động bằng cách làm giảm những dao động điện (rất cao nơi những
người bị bệnh Parkinson trong giai đoạn mà các bệnh nhân bị trở ngại nhất),
như thế làm phục hồi những điều kiện thuận lợi cho khả năng vận động.
“ Đó là một công trình nghiên cứu vững chắc, được tiến hành với những
mô hình động vật rất tốt của bệnh Parkinson ”, GS Pierre Cesaro (bệnh
viện Henri-Mondor, Créteil) đã bình luận như thế. Tuy nhiên phải vẫn thận
trọng, bởi vì các kết quả chỉ mới liên quan đến các động vật gặm nhấm.
Nhưng những kết quả này khiến ta muốn chuyển ngay qua những thử nghiệm
nơi các bệnh nhân, vì lẽ kỹ thuật tương đối dễ thực hiện. “ Không có hạn
chế về mặt đạo đức khi đề nghị kỹ thuật này cho một bệnh nhân Parkinson
bị đau đớn ”, Pierre Cesaro đã ghi nhận như vậy.
Những phương pháp ít xâm nhập, thay thế kỹ thuật kích thích vùng sâu não
bộ (stimulation cérébrale profonde), đang được nghiên cứu. Nhiều thử nghiệm
đang đánh giá phương pháp kích thích điện các neurone nơi vỏ não, cũng
dễ tiếp cận hơn các nhân dưới đồi thị. Những nhà nghiên cứu khác đang
trắc nghiệm kích thích điện từ qua sọ (stimulation magnétique transcraniale).
“ Hoàn toàn không gây chấn thương (không phải cắm một điện cực nào), phương
pháp kích thích neurone của vỏ não đã thu được thành công trong bệnh trầm
cảm. Nhưng những kết quả của nó dường như quá tạm thời để có thể áp dụng
cho các bệnh mãn tính như bệnh Parkinson ”, theo GS Cesaro.
THUỐC ĐẦU TIÊN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHÂU ÂU.
Về phía thuốc men, một trong những hướng ưu tiên của nghiên cứu là, cũng
như trong bệnh Alzheimer, các thuốc chống viêm và bảo vệ thần kinh (neuro-protecteurs).
Một thuốc đầu tiên làm chậm lại sự tiến triển của bệnh Parkinson, Rasagiline,
đã nhận được giấy phép lưu hành trên thị trường châu Âu. Đã được thương
mãi trong nhiều nước châu Âu và Hoa Kỳ, thuốc mới này chẳng bao lâu nữa
sẽ xuất hiện ở Pháp. Ngược lại, con đường của liệu pháp gène (thérapie
génique) đã trở nên rất hạn chế. Trong một thử nghiệm giai đoạn I, GS
Cesaro đã trắc nghiệm nơi vài bệnh nhân mũi tiêm 3 gène thuốc vào trong
não bộ, “ một bơm dopamine génétique ”, ông diễn dịch như vậy. Với một
năm nhìn lại, mức độ dung nạp tuy tốt nhưng tính hiệu quá còn khiêm tốn
với liều lượng hiện nay.
Còn liệu pháp tế bào (thérapie cellulaire)? “ Chúng ta vẫn còn xa với
những áp dụng lâm sàng ”, GS Marc Peschanski đã đánh giá như vậy. Với
những tế bào gốc phôi thai (cellules souches embryonnaires) cũng như với
những tế bào gốc trưởng thành (cellules souches adultes), các nhà nghiên
cứu vẫn luôn luôn khó khăn trong việc chế tạo những neurone à dopamine,
ông đã giải thích như vậy. Trong những năm 1990, Pierre Cesaro và Marc
Peschanski đã thực hiện các ghép neurone thai nhi với một mức độ thành
công nào đó. Nhưng kỹ thuật này đã bị bỏ đi. Mỗi mẫu ghép cần nhiều thai
nhi phát xuất từ các sẩy thai. Và các giải phẫu tử thi của nhiều bệnh
nhân bị tử vong đã cho thấy rằng sau 10 năm, các neurone được ghép đã
trở thành Parkinson. (LE FIGARO 23/3/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr116.htm
(TSYH 116, bài số 6)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr105.htm
(TSYH 105, bài số 7)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr65.htm
(TSYH 65, bài số 10)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr51.htm
(TSYH 51, bài số 6)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr31.htm
(TSYH 31, bài số 1).
10/ CHỐNG LẠI “BIG ONE ” CỦA SỰ
LÂY NHIỄM
Các nguy cơ gia tăng, đặc biệt gây nên bởi sưởi ấm toàn cầu và công nghiệp
thực phẩm.
Dân California có “big one” của họ, đó là trận động đất vào một ngày nào
đó sẽ biến họ thành tro bụi. Chính đối diện với một hiểm nguy tương tự
mà các chuyên gia y tế hội họp ở Vienne nhân Hội nghị quốc tế lần thứ
hai về các bệnh mới phát khởi (maladies émergentes), đã rung chuông báo
động trước sự gia tăng của các mối hiểm nguy. “ Chúng ta sẽ có những trận
đại dịch trong những năm đến và chúng ta sẽ có một trận đại dịch cúm mà
xuất xứ chắc chắn sẽ là gia cầm, như 3 trận dịch lớn của thế kỷ 20. Vấn
đề không còn để biết là những trận đại dịch có xảy ra hay không, mà khi
nào điều đó sẽ xảy đến. Và thiết đặt những công cụ theo dõi cho phép làm
giảm thiểu những hậu quả y tế đối với những động vật và con người, giáo
sư Ilaria Capua, Venezia (Y) đã giải thích như vậy. Ở Vienne, phần lớn
những mối đe dọa được đánh giá làm lạnh xương sống : mặc dầu sida cũng
trở nên bệnh mãn tính, nhưng số những trường hợp mới vẫn luôn luôn gia
tăng và trong những thời gian tới người ta không còn xem xét đến một vaccin
nữa. Bệnh Chikungunya, được quan sát lần đầu tiên vào năm 1953 ở Tanzanie,
được ghi nhận càng lúc càng nhiều bởi các trận dịch. Giết chết 200 người
ở La Réunion, người ta nghĩ rằng bệnh dịch sẽ cần nhiêu năm để đến châu
Âu. Không phải như vậy, bệnh đã đổ bộ ở Ý năm 2007, trong một vùng đầm
lầy của châu thổ sông Pô, qua trung gian một khách du lịch bị lây nhiễm,
nhưng nhất là bởi một con muỗi, có lẽ nhờ một sự biến dị, đã cho phép
nó sống sót trong khí hậu nhiệt đới.
Tức thời, sự sưởi ấm khí hậu toàn cầu ở trên đầu môi chót lưỡi : có lẽ
chính sưởi ấm toàn cầu đã cho phép bệnh lưỡi xanh (maladie de la langue
bleue), gây bệnh cho bò và cừu, lợi dụng cơ hội của một chú muỗi bà con
để đột ngột nhảy từ Địa Trung Hải vào Bỉ hay Hòa Lan. Nếu các chuyên gia
y tế công cộng và y tế động vật hội họp đột xuất để thống nhất các kiến
thức, thì họ nhất trí về một điều, đó là xác suất cao “ Big One ” sẽ là
một biến thể của bệnh cúm gia cầm. Giống nào ? Còn đang tranh cãi. Người
ta nhìn một cách lo âu các kho tích trữ thuốc kháng virus của các chính
phủ, đôi khi bị mất trắng vì lẽ các giống gốc của H1N1 phổ biến nhất trở
nên đề kháng. Sự đề kháng, đó là sự kiện một loại thuốc không còn hiệu
quả nữa, bởi vì các vi khuẩn mà thuốc nhắm vào đã biến dị để thoát khỏi
tác dụng của nó, hiện là tâm điểm của những tranh cãi giữa các chuyên
gia y tế động vật và người, các chuyên gia y tế người trách các chuyên
gia y tế động vật đã sử dụng quá mức các kháng sinh một cách không có
ý thức và làm phát tán rộng rãi chúng. Các chuyên gia y tế động vật thì
lập luận rằng nếu một sự theo dõi là cần thiết trong chăn nuôi, thì ngay
cả việc cấm vận các thuốc kháng sinh cũng không hẳn một mình sẽ giải quyết
vấn đề đề kháng, các thuốc kháng sinh không giống nhau và sự đề kháng
không nhất thiết được tái lập sau khi giảm sự tiêu thụ.
Những mối hiểm nguy khác ? Người ta tính các trường hợp sốt xuất huyết
(dengue) : 15.000 trường hợp năm 1960, 1 triệu ngày nay. Ở Cambodge, 80%
các ấu trùng của muỗi mang bệnh hiện diện trong những chum nước cộng đồng.
Không có nước máy. Xử lý các chum nước ở đây, đặt các nắp đậy ở đó, giảm
các chậu hoa ở chỗ khác, đã dẫn đến sự giảm tỷ lệ mắc bệnh 67% đến 90%.
Nhưng để đạt được điều đó, cần phải có công tác giáo dục. “ Trong một
vài nước, người ta đã phun thuốc trừ sâu lên trên thành phố từ một chiếc
máy bay C-130. Điều này hoàn toàn vô hiệu vì thuốc không vào được tâm
điểm của các ngôi nhà, mà ta có thể đạt được với một máy khí dung gia
dụng thông thường, được sử dụng trước giờ hoạt động của muỗi ”, GS Martin
Nathan đã giải thích như vậy.
Sốt vàng (fièvre jaune) tiến về thành thị và rời bỏ các khu rừng và sốt
xuất huyết sinh sôi nảy nở ở Thổ Nhĩ Kỳ và ngay cả ở Hy Lạp. Còn sốt thung
lũng Rift hiện đang gầm thét ở Châu Phi và chuyển qua Arabie Saoudite.
Vecteur truyền bệnh của nó ? Một chú muỗi thông thường... rất phổ biến
ở Châu Âu.
Đứng trước những mối hiểm nguy này, mà các chuyên gia đã nhận diện để
chuẩn bị tốt hơn nhằm chống lại chúng khi một ngày nào đó sẽ đến, cũng
có những điều khó hiểu : trong khi một vaccin có hiệu quả chống lại bệnh
chó dại đã có từ hơn một thế kỷ nay, thế mà vẫn còn 50.000 trường hợp
chết vì bệnh này mỗi năm trên thế giới, mà hầu hết là những trẻ em dưới
15 tuổi. (LE SOIR 19/2/2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (24/4/2009)
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |