 |
Thời
Sự Y Học số 128
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ “TRONG TRƯỜNG HỢP ĐẠI
DỊCH TOÀN CẦU, CÓ PHƯƠNG TIỆN KHÔNG THÔI VẪN KHÔNG ĐỦ”
Đối với G.S Jean-Philippe Derenne, nước Pháp đã khá được trang bị để đương
đầu với một cuộc khủng hoảng y tế quy mô lớn. Nhưng người ta vẫn chưa
biết những hậu quả xã hội của một biến cố như thế. Trưởng khoa phổi và
hồi sức của bệnh viện La Pitié-Salpêtrière, Jean-Philippe Derenne ngày
nay là thầy thuốc tham vấn của bệnh viện này.
Hỏi : Vào năm 2005, khi ông cùng với François
Bricaire xuất bản “Pandémie, la grande menace” (Đại dịch, mối đe dọa lớn)
(Fayard), ông đã khá gây lo sợ về chủ đề cúm gia cầm. Ông có vẫn như vậy
hay không với cúm A (H1N1) ?
G.S Jean-Philippe Derenne : Chúng tôi đã không gây lo sợ, 90% các chuyên
gia virus chuyên về bệnh cúm đều đã nói rằng virus A (H5N1) sẽ biến dị.
Khi đó chúng tôi là các trưởng khoa của một trong hai bệnh viện Paris,
phải chịu làn sóng đầu tiên những bệnh nhân trong trường hợp đại dịch.
Trách nhiệm của chúng tôi là có thể điều trị các bệnh nhân và bảo vệ các
nhân viên điều dưỡng. Nếu hôm nay chúng ta có được các phương tiện để
chống lại cúm A (H1N1), đó chính là nhờ sự huy động này. Nhiều người đã
rất là tích cực : Xavier Bertrand, khi đó là Bộ trưởng y tế, Jacques Chirac,
khi đó là tổng thống của nước cọng hòa. Chính sách này đã được kế tục
bởi tổng giám đốc y tế hiện nay, Didier Houssin. Trận dịch cúm A (H1N1)
hiện nay dường như ít nghiêm trọng hơn điều mà chúng ta đã có thể e sợ
trong trường hợp biến dị của virus A (H5N1).
Hỏi : Thế thì tại sao trận dịch lại làm sợ
hãi đến thế ?
G.S Jean-Philippe Derenne : Trước hết là bởi vì lứa tuổi bị bệnh : 60%
các bệnh nhân ở tuổi 18 hoặc ít hơn. Điều này giống với trường hợp cúm
Tây Ban Nha đã giết chết 70 triệu người giữa năm 1918 và 1920. Mặt khác,
những công bố đầu tiên chỉ rõ rằng, ở Hoa Kỳ, 5% các bệnh nhân đã phải
bị nhập viện. Nếu như thế, trong trường hợp đại dịch, ta phải e sợ rằng
các bệnh viện sẽ bị tràn ngập. Sau cùng, Margaret Chan, nữ giám đốc OMS,
vừa bày tỏ các lo sợ về một sự tương tác khả dĩ giữa virus A (H1N1) biến
dị và vius A (H5N1).
Hỏi : Người ta sợ điều gì với loại cúm A
này ?
G.S Jean-Philippe Derenne : Nói chung, cúm giết người là do các biến chứng
hô hấp, các viêm phổi do virus và nhất là những viêm phổi do vi khuẩn
bội nhiễm. Các nước phương tây có nguy cơ thấy các cơ sở điều trị gặp
khó khăn. Trong các nước nghèo, nơi các cơ sở điều trị thường trong tình
trạng bấp bênh, phải sợ rằng có nhiều bệnh nhân tử vong mà những bệnh
nhân này nếu được điều trị có thể được cứu sống. Chúng ta không thể chấp
nhận điều đó. Chính trách nhiệm của nước Pháp, một trong những nước được
chuẩn bị tốt nhất, là phải thuyết phục các nước khác của Liên Hiệp Châu
Âu về một sự hợp tác thật sự và một sự giúp đỡ hậu cần có hiệu quả dành
cho các nước ít được chuẩn bị nhất.
Hỏi : Tamiflu có hiệu quả chống lại cúm A
(mà bây giờ ta không còn gọi là cúm heo nữa).
G.S Jean-Philippe Derenne: Virus mới A (H1N1) nhạy cảm với Tamiflu và
với Relenza, trong khi ở Hoa Kỳ virus cúm mùa A (H1N1) đã trở nên đề kháng
với chúng. Cúm này không phải là cúm heo bởi vì nó không phải là một bệnh
cúm của heo được truyền bởi heo. Virus mới A (H1N1) là một bệnh cúm của
người được truyền bởi người. Có lẽ virus đã được kết hợp nơi heo bởi vì
dường như nó liên kết với sự tái phối hợp của hai virus heo vốn lưu hành
trước đây
Một virus là một sinh vật không thể tự sinh sản. Do đó nó phải đi vào
trong một tế bào. Phần lớn các virus có một enzyme có nhiệm vụ sao chép
lại cấu trúc của những thành phần khác nhau của chúng và như tất cả các
người sao chép, enzyme này cũng phạm những lỗi lầm. Ngoài ra chúng có
một enzyme đọc lại (enzyme de relecture), nhằm sửa chữa những sai sót
vừa nói đến. Trong virus cúm, enzyme có nhiệm vụ đọc lại này bị thải hồi.
Do đó virus thay đổi thường trực. Nhưng ngoài ra, khi hai virus cùng hiện
diện, có thể có sự tái phối hợp (recombinaison) của một virus mới, lấy
một phần bộ gène của virus thứ nhất và một phần của virus thứ hai. Chính
như thế mà virus A (H1N1) dường như xuất phát từ năm nguồn gốc khác nhau.
Hỏi : Vào lúc này, ở Pháp, việc tiến hành
dự trữ Tamiflu như người Mỹ đang làm, có ích lợi hay không ?
G.S Jean-Philippe Derenne : Ở Hoa Kỳ, cấu trúc tổ chức y tế khiến cho
điều này có thể không vô ích. Ở Pháp, nếu thêm vào Relenza, chúng ta sẽ
có 33 triệu liều điều trị. Tuy nhiên, có các phương tiện không thôi không
đủ. Cần hành động rất nhanh trong trường hợp đại dịch cúm. Tôi nghĩ chính
để buộc các quốc gia xem trọng mối đe dọa đại dịch mà OMS đã chuyển qua
mức 5.
Hỏi : Nhưng như thế người ta không làm đúng
nguyên tắc thận trọng hay sao ?
G.S Jean-Philippe Derenne : Tôi không thích nguyên tắc thận trọng, dẫn
đến ý niệm nguy cơ zéro. Tôi thích nguyên tắc lợi ích so với nguy cơ hơn.
Trong trường hợp này, đó không phải là nguyên tắc thận trọng. Câu hỏi
là : chúng ta đã được trang bị để chống lại một đại dịch, mà bản chất
đó là một cuộc tấn công trực tiếp chống lại một xã hội ? Ngoài ra, sự
lây nhiễm cúm được thực hiện qua những giọt nhỏ, được phát ra lúc ho và
lúc hách xì : người bị cúm nguy hiểm cho những người ở gần anh ta. Lịch
sử của các đại dịch luôn luôn cho thấy những hiện tượng tan vỡ trong gia
đình, trong những nhóm xã hội và, sau khi tai ương đã qua, còn lại những
câu chuyện tội lỗi là đã không săn sóc người thân, là đã làm lây nhiễm
họ ,…
Không ai đã chuẩn bị để đối phó với cúm Tây Ban Nha, những đại dịch đã
đến với Tây Phuơng ngay sau chiến tranh 1914-1918. Cúm Tây Ban Nha đã
gây bệnh cho các người trẻ tuổi, trong đó có các quân nhân, và những người
chết vì cúm như thể lại được thêm vào trong những tổn thất chiến tranh.
Ngoài ra, lúc đó phần lớn dân chúng trên thế giới sống ở vùng nông thôn.
Do đó, những tiếp xúc ít mật thiết như ngày nay trong các thủ phủ, là
nơi, đặc biệt trong những nước nghèo, dân chúng sống dính kết với nhau.
Sau cùng, ngoài những nước phương tây, không ai biết điều gì đã xảy ra
trong nước ở cạnh bên. Ngày nay chúng ta có một trình độ thông tin đi
trước hẳn trình độ y tế, và mọi người đều biết rằng những người giàu đã
cố ý để chết hàng triệu người nghèo.
Hỏi : Vài người nói rằng sự ồn ào được tạo
nên chung quanh dịch cúm A là một cách để làm cho dân chúng lãng quên
nỗi lo sợ về cuộc khủng hoảng kinh tế hiện đang diễn ra ?
G.S Jean-Philippe Derenne : Cái vĩ đại của chế độ dân chủ là ở chỗ mọi
người đều có quyền nói ra những điều ngu xuẩn. Ông hẳn nhớ cái thời kỳ
người ta đã nói rằng sida chỉ là một mối đe dọa được giơ ra để nhằm chống
lại những người đồng tính luyến ái, nhân danh trật tự đạo đức.
Hỏi : Khuyên dân Pháp đừng đi Mễ tây Cơ và
Hoa Kỳ phải chăng là thích đáng, trong khi đã có 30 nước bị lây nhiễm
?
G.S Jean-Philippe Derenne : 3 nước thật sự bị lây nhiễm, Mễ tây Cơ, Hoa
Kỳ và Canada. Ổ bệnh Hoa Kỳ rất là quan trọng, bởi vì chỉ có 18% những
người bệnh là đã trở về từ Mễ Tây Cơ. Tất cả các tiểu bang Hoa Ky đều
bị lây nhiễm, ổ bệnh lớn nhất là trong Illinois, rất xa Mễ Tây Cơ.
Hỏi : Người ta sẽ hiệu chính một vaccin chứ
?
G.S Jean-Philippe Derenne : OMS đã loan báo hôm 18/5 rằng kể từ tháng
chín, 4,9 tỷ liều đơn vị vaccin chống virus A (H1N1) có thể được chế tạo
trong 12 tháng. Vậy khoảng 400 triệu liều mỗi tháng, và phải đợi thêm
3 tuần để có được một miễn dịch tốt. Giả sử rằng công nghiệp dược phẩm
có khả năng sản xuất với năng suất tối đa ngay từ tháng chín, như thế
sau đó sẽ phải còn lựa chọn những nhóm dân nào cần được tiêm chủng đầu
tiên.
Hỏi : Ông có nghĩ rằng người Pháp ngay từ
bây giờ phải có những chuẩn bị đặc biệt, ví dụ mang mặt nạ ?
G.S Jean-Philippe Derenne : Không, nếu không hãy theo những lời khuyên
thông thường, như rửa tay, v..v…. Nếu các phương tiện cần phải thiết đặt,
thì phải suy nghĩ điều đó một cách tập thể, chứ đừng rơi vào tình trạng
mọi người vì mình như ở Hoa Kỳ.
Các mặt nạ, ít nhất là những mặt nạ ngoại khoa đang được sử dụng bởi dân
Mễ, chỉ hữu ích để tránh không cho bệnh nhân truyền bệnh, khi họ ho hay
hách xì. Các mặt nạ không dùng cho những người lành mạnh để tránh bệnh.
Chỉ có những mặt nạ FFP2 hay FFP3 là hữu ích, nhưng khó chịu đựng được
và chỉ hiệu quả trong 4 giờ. Nhất là không nên mua Tamiflu trên Internet
: các thuốc giả đầy dẫy, và những thuốc không đủ liều làm bệnh nhân đề
kháng với virus. Ngoài ra không nên mua bất cứ thuốc nào trên internet.
(LE MONDE 23/5/2009)
2/ AI SẼ ƯU TIÊN ĐƯỢC TIÊM
CHỦNG CHỐNG CÚM MEXICO ?
G.S Yves Van Laethem là chuyên gia về các bệnh truyền nhiễm của bệnh viện
Saint-Pierre, Bruxelles.
Hỏi : Trong khi vaccin cúm mùa (vaccin saisonnier)
(chứa 3 giống gốc đã được chọn lọc từ nhiều tuần nay), hiện đang được
sản xuất để có sẵn sử dụng vào mùa thu đến, ta có thể thêm vào vaccin
này giống gốc mexico hay không ?
G.S Yves Van Laethem : Đúng là khó có thể được. Bởi vì các hãng bào chế
hiện đã tiến rất xa trong việc chế tạo vaccin cúm mùa và rằng OMS đang
sửa soạn gởi đến các hãng bào chế khác nhau, chủng virus mới vừa được
phân lập. Các hãng sẽ có một chủng được làm thanh khiết trong khoảng 10
ngày nữa. Vậy ngoài vaccin cúm mùa, sẽ cần phải chế tạo một vaccin đặc
hiệu (chống cúm mexico) để chủng.
Hỏi : Sẽ cần phải tiêm bao nhiêu mũi ?
G.S Yves Van Laethem : Khó có thể trả lời được : không ai đã có thể trắc
nghiệm cũng như cấy loại virus mới này của cúm. Có lẽ cần đến hai mũi
tiêm, như thường là như vậy trong trường hợp của một kháng nguyên mới.
Người ta cũng chẳng biết là “ nó có mọc tốt ” hay không, đôi khi chúng
ta có những bất ngờ.
Hỏi : Khi nào thì chủng ?
G.S Yves Van Laethem : Nếu một làn sóng dịch bệnh thứ hai xảy đến, điều
này rất là khả dĩ, vì lẽ đó là điều gần như đã xảy ra trong lịch sử của
các virus, thì sẽ phải tiêm chủng những bệnh nhân trước khi làn sóng dịch
có thể đến giữa tháng 10 và tháng 11, hoặc sớm hơn đợt tiêm chủng thường
lệ được thực hiện hàng năm vào tháng 11, để được chuẩn bị cho tháng giêng
và tháng hai. Vậy phải tiêm chủng vaccin mexico hai tháng sớm hơn.
Hỏi : Sẽ có khả năng sản xuất đủ hay không,
nhất là đối với trứng gà, luôn luôn cần thiết trong quá trình sản xuất
vaccin ?
G.S Yves Van Laethem : Chỉ có những hãng bào chế mới có thể trả lời câu
hỏi này. Lý tưởng là họ có thể sản xuất xong vaccin cúm mùa sớm hơn, vào
cuối tháng 6, và rằng họ có thể bắt đầu sản xuất ngay vaccin đặc hiệu
này. Tuy nhiên đừng có mang ảo tưởng : hàng trăm triệu liều vaccin sẽ
được sản xuất, sẽ dành ưu tiên cho những ai sẽ gởi đơn đặt hàng và sẽ
thanh toán tiền, nghĩa là các nước phát triển.
Hỏi : Vì virus này tấn công những người trẻ
tuổi có sức khoẻ tốt, đó là điều không phải bình thường, vậy có phải ưu
tiên dành vaccin cho những đối tượng này ?
G.S Yves Van Laethem : Sẽ đúng là hữu ích khi dành vaccin cho những bệnh
nhân từ 35 đến 50 tuổi, những người theo lệ thường không chết vì bệnh
cúm. Nhưng những người có tình trạng miễn dịch bị suy giảm, với một bệnh
mãn tính hay lớn tuổi hơn, là những nhóm ưu tiên theo lệ thường, cũng
sẽ bị tiếp xúc với virus không thua kém gì. Nếu không có đủ vaccin, công
việc trọng tài về mặt đạo đức sẽ là khó khăn. (LE SOIR
5/5/2009)
3/ BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT
: RỐI LOẠN NỔI KẾT GIỮA CÁC NEURONE ?
Các kết quả của nhiều công trình nghiên cứu (có tính chất cơ thể học,
di truyền học và chức năng) chứng minh rằng bệnh tâm thần phân liệt là
một bệnh trong đó những nối kết liên não (connexions intercérébrales)
bị thương tổn. Hậu quả là những loạn năng trong sự trao đổi thông tin
của những vùng khác nhau của não bộ, những khiếm khuyết trong việc phát
tín hiệu giữa các neurone và sự thiếu đồng bộ trong hoạt động của chúng.
Điều này giải thích triệu chứng ảo giác (hallucination) và những triệu
chứng khác. (PARIS MATCH 20/5-27/5/2009)
4/ CHỨNG LÃO THỊ CÓ THỂ ĐƯỢC PHẪU
THUẬT MÀ KHÔNG GÂY BIẾN CHỨNG ?
OPHTALMOLOGIE. Một thầy thuốc người Pháp loan báo đã hiệu chính một kỹ
thuật mới “cực kỳ nhanh”. Nhưng ngoại khoa của chứng rối loạn thị giác
này vẫn chưa chứng minh được khả năng điều trị. Vào lứa tuổi 50, khi chúng
ta bị lão thị (presbythie), cái khuyết tật điều tiết làm cho chúng ta
thấy mờ khi nhìn gần, chúng ta có nên giao phó đôi mắt mình cho con dao
của các thầy thuốc ngoại khoa? Câu hỏi cần những câu trả lời đáng tin
cậy khi chúng ta biết rằng 80% đàn ông và phụ nữ hơn 45 tuổi bị liên quan
bởi vấn đề này. Ngoài ra, chứng lão thị được thêm vào những khuyết tật
đã có từ trước (cận thị, viễn thị, loạn thị), đòi hỏi những phương thức
điều trị rất khác nhau ! Nhân hội nghị của Hiệp hội Nhãn khoa Pháp, đã
kết thúc hôm qua ở Paris, một chuyên gia người Pháp, BS Alain Telandro,
đã loan báo ầm ĩ là đã hiệu chính được một kỹ thuật ngoại khoa mới bằng
laser “cực nhanh, giác mạc được để nguyên vẹn”. 4 bệnh nhân người Pháp
đã được mổ ở Cannes tuần vừa qua, theo kỹ thuật “đang được nghiên cứu
ở Colombie từ hai năm nay” này.
HAC (Haute autorité de santé) đã giải thích rằng, về loại giải phẫu này,
“ngoài một công trình nghiên cứu cũ về trị liệu điều chỉnh các rối loạn
chiết quang bằng laser Excimer”, cho đến nay vẫn không có một hội nghị
nhất trí nào, cũng như không có một khuyến nghị nào nhằm đả thông các
thầy thuốc và các bệnh nhân của họ về các hạn chế, các chống chỉ định,
các ưu điểm hay những biến chứng của phẫu thuật.
Mặc dầu như thế, yêu cầu được phẫu thuật vẫn không suy giảm: “Điều trị
lão thị được toàn thể nghề y mong muốn”, một thầy thuốc nhãn khoa Paris
đã thú nhận như vậy.
CON MẮT CŨNG NHƯ MỘT CAMERA
Để hiểu rõ rối loạn chiết quang này, phải tưởng tượng con mắt như là một
camera có một hệ thống các vật kính (buồng trước, giác mạc, thủy tinh
thể), một buồng đen và một phim nhạy cảm, võng mạc. Để tạo nên một hình
ảnh rõ ràng trên võng mạc, thủy tinh thể, nơi các tia sáng đi xuyên qua,
được phát ra và được phản chiếu bởi các vật kính, khum lên nhờ các cơ
bám vào nó và tạo nên hình ảnh rõ nét trên võng mạc. Nói chung chính thủy
tinh thể này, do một sự lão hóa bình thường của mắt, cứng lại và dày lên
khi lớn tuổi. Thường thường, người bị như thế khó điều tiết đầy đủ để
đọc gần.
Những giải pháp cổ điển vẫn luôn luôn được sử dụng : các kính có độ tăng
dần khôi phục lại toàn bộ thị trường ; các lentille mềm hay dễ uốn nhiều
tiêu điểm (multifocal), được sử dụng để nhìn một mắt, nhìn luân phiên,
hay đồng thời, đã mang lại nhiều thành công : hơn 30 mẫu lentille dành
cho những người lão thị đang được bán trên thị trường Pháp.
Ngoại khoa cũng đã xuất hiện. Đó chủ yếu là một ngoại khoa không xâm nhập
bằng laser. Dẫu dùng laser Excimer hay Lasik (các năng lượng được phát
ra khác nhau), các phẫu thuật, đến nay, nhằm tạo lại hình dáng giác mạc
nhờ tạo nên nhiều vùng cắt bỏ. “Theo chỗ tôi biết, không có một công trình
nghiên cứu nghiêm chỉnh nào đã chứng minh tính hiệu quả được so sánh của
phẫu thuật này”, BS Eric Gabison (thầy thuốc tham vấn của Cơ quan Rorhschild,
Paris) đã công nhận như thế.
“ MỘT NGOẠI KHOA TIỆN NGHI ”
Các bệnh nhân bị đục thủy tinh thể (cataracte) kết hợp với lão thị có
thể hưởng phẫu thuật thay thủy tinh thể bị lão hóa bằng một implant mềm
nhiều tiêu cự, cho phép nhìn xa và gần như với các kính đeo có độ tăng
dần. G.S José-Alain Sahel, chủ tịch của Viện thị giác, cho rằng “đến nay,
đó là một ngoại khoa tiện nghi (chirurgie de confort), chưa được chấp
nhận và nhất là không có gì là cần thiết. Đôi khi, nhân một cuộc phẫu
thuật trị bệnh đục thủy tinh thể, các phẫu thuật viên lợi dụng để lấy
bỏ thủy tinh thể. Nhưng việc mổ những người lão thị ở lứa tuổi 50 đối
với tôi dường như không thích đáng. Chúng ta biết rằng 1/3 những người
lớn tuổi sẽ bị chứng thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA: dégénérescence
maculaire liée à l’âge). Sự tương tác giữa ngoại khoa lão thị và bệnh
thoái hóa điểm vàng do tuổi tác có thể tạo ra các vấn đề”. (LE
FIGARO 12/5/2009)
5/ LÀM VIỆC VỀ ĐÊM CÓ HẠI CHO PHỤ
NỮ
Sau khi công bố một bài báo cáo của Trung tâm nghiên cứu quốc tế về ung
thư, chỉ rõ rằng sự làm việc về đêm không phải tạm thời, về lâu về dài
có thể là một nguyên nhân của ung thư vú. 40 phụ nữ Đan Mạch đã nhận một
số tiền bồi thường. Lý do giải thích : những phụ nữ lao động về đêm, sản
xuất ít mélatonine (hormone được sản xuất ban đêm) hơn những phụ nữ khác,
điều này làm gia tăng nơi họ lượng oestrogène lưu thông trong máu. Thế
mà, những hormone này lúc quá thặng dư, làm dễ sự tăng trưởng của các
ung thư vú. (PARIS MATCH 30/4-6/5/2009)
6/ NGĂN NGỪA CÁC TAI BIẾN
TIM MẠCH : HƯỚNG VỀ MỘT VIÊN THUỐC DUY NHẤT ?
G.S Nicolas Danchin, trưởng khoa ở bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou,
bình luận một công trình nghiên cứu mới được thực hiện với “ polypill
” chứa 5 loại thuốc.
Hỏi : Thường thường những ai có nguy cơ bị
những tai biến tim-mạch ?
G.S Nicolas Danchin : Thật vậy, có nhiều yếu tố làm dễ, mà sự phối hợp
sẽ làm gia tăng nguy cơ một cách đáng kể. Đó là tuổi tác (trên 40 tuổi),
thặng dư cholestérol, cao huyết áp, nghiện thuốc lá, bệnh đái đường, di
truyền, chứng béo phì bụng, cũng như tình trạng nhàn rổi không hoạt động,
stress tâm lý. Ở Pháp, người ta kiểm kê gần 100.000 trường hợp nhồi máu
cơ tim mỗi năm và cùng một số lượng như thế đối với tai biến mạch máu
não.
Hỏi : Hiện nay người ta làm sao để ngăn ngừa
các tai biến tim-mạch này ?
G.S Nicolas Danchin : Phương thức thứ nhất là tìm những yếu tố nguy cơ
đe dọa... Điều đó đôi khi khó, bởi vì vài yếu tố không gây nên một triệu
chứng nào. Do đó sự cần thiết phải làm xét nghiệm máu kể từ tuổi 40, để
đo nồng độ cholestérol và đường (glucose-huyết), và sự hữu ích cần đo
huyết áp mỗi lần thăm khám. Khi các kết quả bình thường, những xét nghiệm
này cần phải được lập lại mỗi 3 hay 5 năm, cho đến năm 60 tuổi, và sau
đó cứ mỗi năm một lần.
Hỏi : Trong trường hợp nào thì cần điều trị
phòng ngừa ?
G.S Nicolas Danchin : Khi một yếu tố nguy cơ được phát hiện, như tăng
cholestérol-huyết hay bệnh đái đường, mà một điều trị duy nhất thường
là đủ (như statine để làm hạ cholestérol). Đối với cao huyết áp, ta thường
cần phải phối hợp nhiều loại thuốc nhằm làm giảm huyết áp. Khi nhiều yếu
tố nguy cơ liên kết với nhau, ta thường kê đơn 3 hay 4 loại thuốc khác
nhau và đôi khi hơn thế. Việc uống nhiều thứ thuốc như vậy có thể tạo
nên một sự bó buộc làm phương hại đến sự tuân thủ điều trị.
Hỏi : Với những phương pháp phòng ngừa này,
những kết quả có được là gì ?
G.S Nicolas Dachin : Trong 25 năm, tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch đã giảm
50% ! Thành quả thu được này một nửa là do sự phòng ngừa và nửa kia là
nhờ những tiến bộ được thực hiện trong điều trị, lúc bị nhồi máu hay sau
đó.
Hỏi : Công trình nghiên cứu Ân Độ, trong
đó điều trị phòng ngừa những tai biến tim-mạch với một viên thuốc duy
nhất, được thực hiện như thế nào ?
G.S Nicolas Dachin : G.S Salim Yusuf đã tiến hành công trình nghiên cứu
này trên khoảng 2000 người tuổi từ 45 đến 80, tất cả không bị bệnh nhưng
mang một trong những yếu tố nguy cơ. Trong 3 tháng, tất cả đã uống mỗi
ngày một viên polypill (chứa aspirine, một chất kháng cholestérol và 3
loại thuốc chống cao huyết áp), hoặc một thứ thuốc duy nhất, hoặc một
phối hợp của vài trong những thứ thuốc họp thành polypill.
Hỏi : Những kết quả thu được là gì ?
G.S Nicolas Dachin : Hiệu quả đã tỏ ra tốt : viên thuốc polypill này đã
cho phép làm hạ cholestérol gần giống như với một statine dùng đơn độc,
cho phép làm giảm huyết áp còn hơn một thuốc chống cao áp cổ điển và làm
gia tăng độ lỏng (fluidité) của máu giống như với một aspirine dùng đơn
độc. Trên bình diện dung nạp thuốc, hơn 8 bệnh nhân trên 10 đã không có
một tác dụng phụ nào.
Hỏi : Theo ý kiến ông, chẳng bao lâu nữa
chúng ta sẽ có thể hưởng viên thuốc polypill này ?
G.S Nicolas Dachin : Lợi ích đầu tiên của công trình nghiên cứu này là
đã chứng minh rằng người ta có thể đơn giản hóa một điều trị để cải thiện
sự tuân thủ nó. Mặt khác, đó là một kỳ công kỹ thuật học vì đã thành công
hiệu chính một viên thuốc chứa 5 thứ thuốc ! Những thách thức thật sự
sẽ được diễn ra trong công trình nghiên cứu sắp đến, với thời gian thực
hiện dài hơn nhiều, khi đó nguoi ta sẽ có thể kiểm chứng rằng polypill
thật sự làm giảm nguy cơ tim mạch mà không gây nên các biến chứng. Một
mục đích khác, xa vời hơn, của công trình nghiên cứu này, là cho toàn
thể dân chúng khả năng làm giảm một nửa nguy cơ, chỉ với một viên thuốc
mà thôi. (PARIS MATCH 7/5-13/5/2009)
7/ VITAMINE
D CÓ MỘT TÁC ĐỘNG LÊN NGUY CƠ TIM MẠCH
ENDOCRINOLOGE. Một công trình nghiên cứu của Anh phát hiện một mối liên
hệ giữa sự thiếu hụt vitamine D và bệnh đái đường hay những bệnh tim mạch.
Vitamine D hiện nay là trọng tâm của nhiều nghiên cứu khoa học, và không
chỉ về những tác dụng đã được biết từ lâu của nó lên mật độ xương (densité
osseuse). Như là, những công trình nghiên cứu được thực hiện bởi các thầy
thuốc người Anh khiến nghĩ rằng một cung cấp bổ sung vitamine D có thể
giúp những người lớn tuổi làm giảm nguy cơ phát triển những vấn đề tim
hay đái đường của họ. Tiếp xúc với ánh nắng mặt trời làm giảm những sự
thiếu hụt vitamine D gây nên do tuổi tác hay do thay đổi lối sống. Vấn
đề được đặt ra, đó là những người lớn tuổi hấp thụ vitamine D ít tốt hơn
so với những người nhỏ tuổi hơn. Vitamine D được tổng hợp nhờ các tia
nắng mặt trời, và những người lớn tuổi thì lại ít tiếp xúc hơn với ánh
nắng.
Những công trình được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu của đại học Anh
Warwick, mà B.S Oscar Franco tiến hành, và được công bố tuần này trong
Diabetes Care, kết luận rằng sự thiếu hụt vitamine D được liên kết, một
cách đáng kể, với “hội chứng chuyển hóa” (syndrome métaboliqe). Hội chứng
này là sự phối hợp của những rối loạn khác nhau (tăng cholestérol-huyết,
chứng béo phì, bệnh đái đường) làm gia tăng nguy cơ phát triển những bệnh
tim mạch.
NHỮNG LÝ LẼ VỮNG CHẮC
Công trình nghiên cứu, được thực hiện trên 3.262 người tuổi từ 50 đến
70, tất cả đều thường trú ở Trung Quốc (Bắc Kinh và Thượng hải), đã phát
hiện rằng những người có một nồng độ thấp vitamine D đã bị hội chứng chuyển
hóa (syndrome métabolique) nhiều hơn. “Dường như sự thiếu hụt vitamine
D là nguồn gốc của nhiều bệnh tật trên thế giới, đặc biệt là nơi các người
già”, Oscar Franco, tác giả của tài liệu được công bố, đã giải thích như
thế. Trong công trình nghiên cứu này, cũng dường như rằng những nồng độ
thấp vitamine D được liên kết một cách đáng kể với một sự đề kháng đối
với insuline, nghĩa là một tình trạng tiền đái đường hay đái đường (état
prédiabétique ou diabétique). “Đó là một hướng nghiên cứu nhưng những
kết quả rất là sơ khởi, G.S Serge Hercberg, chuyên khoa về dinh dưỡng
đã nhận xét như vậy, nhiều yếu tố, khác với những yếu tố được nghiên cứu
trong tài liệu này, có thể can thiệp vào, như chế độ ăn uống,”Theo ông,
dầu sao, cộng đồng khoa học ngày nay có những lý lẽ vững chắc để nói rằng
vitamine D đóng một vai trò trong chuyển hóa. “Công trình nghiên cứu này
mở ra những hướng nghiên cứu mới về vitamine D”, Serge Hercberg phát biểu
như vậy.
“Sự thiếu hụt vitamine D liên kết với bệnh đái đường loại 2, đã được biết
từ lâu”, G.S Philippe Chauveau, thầy thuốc khoa thận thuộc CHU de Bordeaux,
về phần mình, đã đánh giá như vậy. “Ở đây, điều đáng quan tâm, đó là số
người được nghiên cứu. Ở Pháp, người ta thu được cùng các kết quả, nhưng
với những công trình nghiên cứu quy mô nhỏ hơn.” GS Marc Bonnefoy, thầy
thuốc chuyên về người già thuộc CHU de Lyon chia xẻ quan điểm này. Một
công trình nghiên cứu mới đây, được thực hiện cho một luận án, cho thấy
rằng trên 100 người già tuổi 80, 82% có một thiếu hụt vitamine D. “Đó
là một vấn đề quan trọng và việc cho bổ sung vitamine D một cách hệ thống
là điều cần thiết, G.S Marc Bonnefoy đã nhận xét như vậy. Trái lại, từ
đó xác lập một quan hệ nhân quả giữa sự thiếu hụt vitamine D cà các rối
loạn chuyển hóa là hơi nhanh. Mặc dầu có một mối liên kết giữa hai hiện
tượng, nhưng việc xác lập một mối liên hệ như thế đối với tôi dường như
còn sớm” Sẽ phải cần những thử nghiệm điều trị để xác nhận điều đó.
ĐƯỢC TỔNG HỢP DO DA
Dầu thế nào đi nữa, vitamine D được các nhà nghiên cứu chú ý. “Rõ ràng
là có một mối liên hệ giữa sự thiếu hụt vitamine D và tỷ lệ tử vong ”,
Marc Bonnefoy đã nhấn mạnh như vậy. Cái đặc điểm lớn của vitamine này,
đó là nó được tổng hợp phần lớn bởi da dưới tác dụng của những tia nắng
mặt trời. Các cung cấp dinh dưỡng chiếm dưới 1/3 nguồn vitamine D. Nồng
độ lớn nhất hiện diện trong cá và dầu gan morue. Các công trình nghiên
cứu mới đây cũng đã cho thấy rằng vitamine D có thể đóng một vai trò trong
sự ngăn ngừa vài loại ung thư, như ung thư đại tràng. Một tài liệu được
công bố trong Archives of Internal Medicine vào tháng ba, xác nhận rằng
vitamine D, được cho với liều lượng cao, làm giảm một cách đáng kể nguy
cơ gãy xương nơi các người già. (LE FIGARO 13/5/2009)
Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr60.htm
(TSYH 60, bài số 8)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr43.htm
(TSYH 43, bài số 1)
8/ CÁC TẾ BÀO GỐC : SỰ SẢN
XUẤT VỚI SỐ LƯỢNG LỚN
Các nhà nghiên cứu Canada đã thành công làm tăng sinh các tế bào gốc máu
(cellules souches sanguines) trong phòng thí nghiệm. Một đầu tiên trên
thế giới, có thể cho phép phát triển những điều trị mới và nhất làm dễ
các ghép cơ quan (greffes d’organes).
Hàng ngàn người trên thế giới đang chờ đợi một cách hoài công một ghép
tủy xương vì thiếu người cho thích hợp (donneur comptatible). Người ta
biết rằng một ghép những tế bào gốc tủy xương (greffe de cellules souches
de la moelle osseuse) có thể cho phép tái tạo lại tủy xương của người
nhận, nhưng cái khó khăn chủ yếu vẫn là thu được một số lượng đầy đủ những
tế bào thích hợp. Nhờ những nhà nghiên cứu của Viện nghiên cứu miễn dịch
học và ung thư học của đại học Montréal, những bệnh nhân này, từ nay đến
vài năm nữa, sẽ có thể có được một tủy xương mới mà không còn cần phải
chờ đợi nữa.
Thật vậy, BS Guy Sauvageau và nhóm nghiên cứu đã chỉ rõ, trong một thông
báo, rằng họ đã thành công sản xuất trong phòng thí nghiệm một số lượng
lớn những tế bào gốc từ một lượng rất nhỏ những tế bào gốc máu (cellules
souches sanguines) xuất phát từ tủy xương. “Đó là một đầu tiên trên thế
giới có thể có những ảnh hưởng quan trọng trong nhiều địa hạt và đó là
một bước khổng lồ tiến về sự hiệu chính một trị liệu cho những bệnh nhân
đang chờ đợi để được ghép tủy xương”, các nhà nghiên cứu Canada đã tuyên
bố như vậy.
TRÁNH PHẢN ỨNG THẢI BỎ
Hiện nay những người được ghép buộc phải dùng thuốc để chống lại sự thải
bỏ của cơ quan được ghép và phải chiụ những tác dụng phụ vì thuốc này
suốt cuộc đời. “Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên chuột chứng
minh rằng những tế bào gốc của tủy xương có thể ngăn cản sự thải bỏ nhằm
chống lại những cơ quan rắn”, BS Sauvageau đã nhấn mạnh như vậy. Phản
ứng thải bỏ (rejet) xảy ra bởi vì những tế bào của hệ miễn dịch, được
chế tạo bởi tủy xương, tấn công cơ quan được ghép (organe greffé) như
thể đó là một kẻ xâm lăng. Làm sao tránh được điều đó? Các nghiên cứu
đã cho thấy rằng ghép những tế bào gốc sinh huyết (cellules souches hématopoiétiques)
(những tế bào được lấy nơi một người cho cơ quan và được phát triển trong
phòng thí nghiệm) sẽ cho phép tránh sự thải bỏ của cơ quan này. Do đó,
tầm quan trọng có thể có những lượng lớn các tế bào gốc sinh huyết, như
thế cho phép có khả năng liên kết những tế bào gốc tương hợp với cơ quan
cần phải ghép.
10 PROTEINE ĐƯỢC LỰA CHỌN
Để sản xuất những lượng lớn những tế bào gốc được gọi là sinh huyết, nhóm
nghiên cứu Canada đã nhận diện 10 protéine trong số 700 ứng viên. 10 protéine
này, trong thiên nhiên, hiện diện bên trong những tế bào gốc sinh huyết.
Các nhà nghiên cứu chỉ rõ rằng họ có thể dùng mội protéine trong số 10
protéine này để buộc các tế bào gốc sinh huyết tăng sinh trong phòng thí
nghiệm. “Giai đoạn sắp đến nhằm kiểm tra xem điều đó cũng hoạt động nơi
người hay không, nói một cách khác là chúng ta sẽ có thể thu được những
lượng tế bào gốc cần thiết cho những kỹ thuật ghép này hay không”, BS
Sauvageau đã xác nhận thêm như thế. Các thử nghiệm sẽ diễn ra ở bệnh viện
Maissonneuve-Rosemont ở Montréal, một trong những trung tâm lớn nhất,
ở đó sự ghép các tế bào gốc được thực hiện. Các công trình của nhóm nghiên
cứu của BS Sauvageau đã được tài trợ bởi Viện nghiên cứu sức khỏe của
Canada và các kết quả được công bố trong Cell. (LE
JOURNAL DU MEDECIN 12/5/2009)
9/ CÁC PHỤ NỮ PHẢI TRẢ GIÁ NHIỀU
HƠN CHO MỘT TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
Thường thường người ta liên kết tai biến mạch máu não với đàn ông nhiều
hơn là với phụ nữ. Nhưng một khi phụ nữ là nạn nhân của tai biến mạch
máu não, thì những thương tổn nghiêm trọng hơn. Những nguyên nhân là phức
tạp, theo một công trình nghiên cứu dịch tễ học.
Cho mãi đến một lứa tuổi cao, các tai biến mạch máu não thường xảy ra
hơn nơi đàn ông. Nhưng sau tuổi 85, phần lớn các nạn nhân là phụ nữ. Mặt
khác, mỗi năm, có nhiều phụ nữ chết vì hậu quả của một tai biến mạch máu
não hơn đàn ông. Thí dụ ở Hoa Kỳ, 61% các nạn nhân của một tai biến mạch
máu não chết người là nữ giới. Nhìn toàn bộ, ở các phụ nữ, tai biến mạch
máu não nghiêm trọng hơn (trước mắt và lâu dài) và có tiềm năng gây chết
người hơn, và tỷ lệ tái phát trong 5 năm sau đột qụy đầu tiên là cao hơn.
Ngoài ra, các phụ nữ này hiếm khi trở lại nhà hơn sau khi đã nhập viện,
và sau đó thường được chuyển về một cơ quan điều dưỡng.
GÓA PHỤ CÔ ĐƠN
Một phần của những quan sat bất lợi này có thể được quy cho tuổi tác :
thường các phụ nữ cao tuổi hơn đàn ông vào lúc xảy ra tai biến mạch máu
não. Nhưng những dị biệt này vẫn tồn tại một phần sau khi điều chỉnh đối
với tuổi tác và đối với một số yếu tố nguy cơ nào đó, như bệnh tật cùng
xảy ra và tình trạng chức năng, trước khi xảy ra tại biến mạch máu não.
Sau tai biến mạch máu não, các phụ nữ thường trở nên trầm cảm hơn đàn
ông, điều này có thể giải thích vì sao sự bình phục diễn ra khó khăn hơn.
Một yếu tố khả dĩ khác là khả năng hạn chế của những hỗ trợ xã hội, nhất
là do sự việc các phụ nữ lớn tuổi thường là góa phụ và do đó có nguy cơ
nhận ít sự giúp đỡ hơn.
ÍT LIỆU PHÁP TAN HUYẾT KHỐI (THROMBOLYSE) HƠN
Người ta cũng đã xác lập rằng những phương thức điều trị được lựa chọn
khác nhau đối với đàn ông và phụ nữ : các phụ nữ ít được nhập viện hơn
trong thời hạn 3 giờ sau tai biến mạch máu não, mà thời hạn này hiện nay
được cho là cửa sổ điều trị (fenêtre thérapeutique) (thời gian giới hạn)
để thực hiện liệu pháp tan huyết khối (thrombolyse). Ngoài ra các phụ
nữ ít thường (13%) được điều trị bởi phương pháp này hơn.Việc nhập viện
muộn của các phụ nữ một lần nữa được quy cho sự cô lập về mặt xã hội và
giải thích tại sao họ thường ít được hưởng liệu pháp tan huyết khối hơn.
NHỮNG TRIỆU CHỨNG KHÔNG ĐIỂN HÌNH
Một phần của các giải thích này có thể là do sự việc rằng các triệu chứng
thường ít điển hình hơn nơi phụ nữ. Một công trình nghiên cứu quan sát
báo cáo rằng ở phụ nữ, tai biến mạch máu não được thể hiện thường hơn
bởi những triệu chứng như đau đớn, sự biến đổi tình trạng tri giác và
những rối loạn thần kinh không đặc hiệu. Đàn ông thường biểu lộ các triệu
chứng cổ điển hơn như bại liệt một bên hay những rối loạn cân bằng. Những
điều mà chúng ta biết về các hội chứng tim cũng đúng với tai biến mạch
máu não. Các phụ nữ có ít hơn những triệu chứng có thể được nhận biết
dễ dàng, điều này có thể giải thích tại sao việc điều trị nơi các phụ
nữ ít tích cực hơn. Người ta chưa biết là các phụ nữ có phản ứng khác
đối với liệu pháp tan huyết khối hay không. Những công trình nghiên cứu
cho thấy rằng liệu pháp này có thể có những tác dụng điều trị rõ rệt hơn
nơi các bệnh nhân nữ, nhưng không có gì là chắc chắn.
MỘT CƠ CHẾ SINH BỆNH KHÁC
Các phụ nữ cũng ít được hưởng hơn vài xét nghiệm thường được thực hiện
trong giai đoạn cấp tính của tai biến mạch máu não. Đặc biệt đó là trường
hợp khám các động mạch cảnh và siêu âm tâm ký (échocardiographie). Trái
lại RMN cũng thường được ghi đơn cho cả hai giới. Nói chung, rất rõ ràng
rằng các phụ nữ không phải là nạn nhân cùng loại tai biến mạch máu não
như đàn ông : nơi phụ nữ, người ta quan sát thấy một tỷ lệ tai biến mạch
máu não loại huyết khối-nghẽn mạch (thromboembolique) nhiều hơn, vì lẽ
có tỷ lệ bị rung nhĩ (fibrillation auriculaire) cao nhất, trong khi đàn
ông thường là nạn nhân của tai biến mạch máu não loại vữa-huyết khối (athérothrombotique).
Khó nói trong chừng mực nào những đặc điểm sinh bệnh này có thể giải thích
những khác nhau trong sự sử dụng các phương tiện chẩn đoán có sẵn. (LE
GENERALISTE 2/4/2009)
10/ NGUY CƠ NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG TIẾT
NIỆU
Sự gia tăng hoạt động sinh dục và sự tiêu thụ rượu được liên kết với sự
gia tăng nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu và những cô gái ở lứa tuổi
học đường, phải đi tiểu thường xuyên hay một cách cấp bách, phải khám
bệnh để được điều trị cái điều có thể là nhiễm trùng đường tiểu đầu tiên
của họ. Đó là điều mà các nhà nghiên cứu đã giải thích nhân hội nghị khoa
học hàng năm của Hiệp hội niệu học Hoa Kỳ (AUA).
Vào tháng 7 năm 2001 và tháng 4 năm 2005, các nhà nghiên cứu đã khảo sát
181 phụ nữ bị đợt nhiễm trùng đường tiểu đầu tiên, đến khám tại phòng
khám dành cho sinh viên của Đaị Học Floride. Nhóm kiểm tra gồm có 80 phụ
nữ không bị nhiễm trùng này. Những người tham gia phải trả lời một bảng
câu hỏi về những thói quen sinh hoạt và chế độ ăn uống của họ. Các kết
quả cho thấy rằng tần số và mức độ khẩn trương là những triệu chứng thường
gặp nhất và rằng các nhiễm trùng đường tiết niệu thường được gặp nhất
nơi các phụ nữ mới đây đã gia tăng hoạt động sinh dục và mức độ uống rượu.
Việc sử dụng các khăn vệ sinh trong lúc hành kinh cũng làm gia tăng nguy
cơ bị đợt nhiễm trùng đường tiểu đầu tiên. Do dự không đi tiểu, hướng
chùi và việc sử dụng các tampon dường như không bị liên kết với nguy cơ
của loại nhiễm trùng này. Sự chung sống với các Chlamydia, bệnh lậu (gonorrhée)
và những nhiễm trùng nấm không góp phần một cách đáng kể vào những triệu
chứng đường tiểu
“Nếu như cô phải đi tiểu thường xuyên và khẩn cấp, cô cần phải đi khám
bệnh, Anthony Smith (AUA) đã bình luận như vậy. Một phụ nữ lần đầu tiên
bị nhiễm trùng đường tiểu có thể không nhận biết các triệu chứng này”.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 12/5/2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (28/5/2009)
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |