 |
Thời
Sự Y Học số 130
Bác sĩ Nguyễn Văn Thịnh
1/ CÚM A : MỨC BÁO ĐỘNG
TỐI ĐA
EPIDEMIE. Tổ chức y tế thế giới đã chuyển qua cấp 6 của hệ thống báo động.
Một quyết định xuất phát từ sự lan tràn của bệnh cúm A, chứ không phải
do mức độ nghiêm trọng của bệnh. OMS đã quyết định chuyển qua giai đoạn
6 của mức báo động đại dịch, mức tối đa. Magaret Chan, đã loan báo như
thế chiều hôm qua với các đại diện của 194 nước thành viên của tổ chức
OMS, sau cuộc họp của ủy ban khẩn cấp. Mức 6 của đại dịch có nghĩa là
từ nay cúm A (H1N1) thoát khỏi mọi sự kiểm soát. Bệnh có thể lây nhiễm
một số lớn người và lan tràn khắp các vùng của quả địa cầu. Dấu hiệu đặc
biệt khác : bệnh được truyền bởi một virus mới, mà để chống lại nó, con
người ít được miễn dịch hoặc không có. Đây là lần đầu tiên một đại dịch
cúm toàn cầu được tuyên bố bởi OMS, một tổ chức được thành lập năm 1948.
“ Sự lan tràn của virus không có thể làm ngừng lại ”, bà giám đốc của
OMS đã nhấn mạnh như vậy trong một cuộc họp báo. Virus, hoàn toàn mới,
được truyền giữa người với nhau, tuy nhiên đại dịch chỉ ở mức độ “vừa
phải”. Bà đã báo trước rằng, các nước, vốn đã bị một đợt hoạt động quan
trọng của cúm A (H1N1), sẽ đón chờ trong những tháng sắp đến một làn sóng
dịch thứ hai. OMS đã nhấn mạnh để kỳ hạn hưu chiến này được tận dụng nhằm
sản xuất vaccin với quy mô lớn. Bà kêu gọi các phòng bào chế dược phẩm
bắt đầu sản xuất vaccin chống H1N1 “ngay khi họ đã chấm dứt sự sản xuất
các vaccin chống lại cúm mùa”.
Sau khi đã xuất hiện ở Mễ Tây Cơ vào cuối tháng ba, virus từ nay hiện
diện trong 74 nước, với những ổ tự trị quan trọng ở Mễ Tây Cơ và Hoa Kỳ,
và những ổ khác giới hạn hơn, ở Nhật Bản, Anh,Tây Ban Nha... Hôm qua cả
thảy 8 nước đưa cho OMS những thông tin, chỉ rõ rằng họ sẽ thuộc vào trong
xếp loại này.
ĐIỀU PHỐI CÁC CHÍNH SÁCH Y TẾ.
Số trường hợp đã bùng nổ mới đây ở Úc (1263 trường hợp), ở Chí Lợi (1.694).
Là nước thứ 5 bị lây nhiễm nhất trên thế giới với 1.263 trường hợp, hôm
thứ năm, Úc đã chỉ rõ rằng 4 bệnh nhân đã được đưa vào phòng hồi sức.
Nước Pháp đến nay tương đối được trừ miễn với 73 trường hợp, trong đó
chỉ có 13 trường hợp được xác nhận. Chính sự bùng nổ số các trường hợp
trong những nước như Úc và Chí Lợi trong những ngày qua đã thúc đẩy OMS
đưa ra quyết định nâng mức báo động lên cấp 6. Sự chậm chạp trong việc
thông qua quyết định này đã bị chỉ trích bởi những chuyên gia độc lập,
cho rằng chỉ có những tính toán chính trị và kinh tế mới có thể làm trì
hoãn như vậy.
Chữ “đại dịch” (pandémie) làm lạnh xương sống, bởi vì nó gợi ra một trận
dịch tác động lên toàn bộ hành tinh. 74 nước đã chính thức bị ảnh hưởng.
Trận đại dịch sau cùng, cúm Hồng Kông (H3N2) năm 1968, đã gây cho 1 triệu
người chết, hoặc gấp đôi hay gấp bốn lần số tử vong do cúm mùa xảy ra
vào mùa đông mỗi năm. Nhưng chữ đại dịch cũng gợi lại cúm “Tây Ban Nha”
năm 1918, đã giết chết hơn 50 triệu người, hơn cả số người chết trong
Đệ Nhất Thế Chiến.
Thang báo động OMS được tạo ra năm 2005 trong bối cảnh của kế hoạch thế
giới chuẩn bị cho một đại dịch cúm. Sự thiết đặt kế hoạch này được quyết
định sau trận dịch SARS (hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng) vào năm
2003 và vì sự tiến triển của cúm gia cầm bắt đầu từ năm 2004. Hệ thống
này trước hết nhằm phối hợp trên quy mô thế giới những chính sách y tế
của 194 nước thành viên và tăng cường công tác phòng ngừa. Tuy nhiên mỗi
nước có thẩm quyền thực hiện những biện pháp riêng tùy theo tình hình
dịch bệnh của mỗi nước.
Cái khó khăn trong tình hình hiện nay là ở chỗ, kế hoạch của OMS và của
nhiều kế hoạch quốc gia vốn đã được xây dựng với dự kiến cho một sự lan
rộng của cúm gia cầm. Thế mà virus gia cầm H5N1 có một tỷ lệ tử vong nơi
người thấp hơn nhiều so với tỷ lệ tử vong của H1N1. Tỷ lệ tử vong của
cúm A/ H1N1 hiện nay có thể so sánh với tỷ lệ tử vong của cúm mùa. Chính
vì lẽ đó mà các mức báo động của nhiều kế hoạch quốc gia có thể vẫn y
nguyên, mặc dầu có sự tái đánh giá của OMS.
“Chúng tôi không muốn rằng người ta hoảng sợ một cách quá mức”, Keiji
Fukuda, phó giám đốc của OMS mới đây đã giải thích như vậy. “Chuyển qua
giai đoạn 6 có nghĩa là sự lan tràn của virus đang tiếp tục, nhưng không
có nghĩa là mức độ nghiêm trọng của bệnh đã gia tăng”.
Mặt khác, OMS vội loan báo rằng sự chuyển qua mức 6 không dẫn đến việc
hạn chế sự đi đứng vận chuyển của người, đồ đạt và dịch vụ. Cơ quan OMS
chỉ đưa ra những khuyến nghị nhằm làm giảm tác động của đại dịch lên dân
chúng. Các quốc gia toàn quyền áp dụng những điều khuyến nghị này tùy
theo nấc thang báo động mà mỗi nước nhận thấy dường như là hợp lý nhất.
Các Hội Hồng Thập Tự và Lưỡi Liềm Đỏ “phải được huy động trên toàn thế
giới và chuẩn bị để đáp ứng” với đại dịch cúm heo, Liên Đoàn Hồng Thập
Tự quốc tế đã loan báo như vậy. (LE FIGARO 12/6/2009)
2/ CÁC MẶT NẠ CÓ THẬT SỰ BẢO VỆ
KHÔNG ?
Đứng trước các đe dọa cúm (H5N1, H1N1…), tất cả các kế hoạch phòng ngừa
đều khuyến nghị đeo mặt nạ. Vâng, nhưng mô hình được khuyên dân chúng
sử dụng không phải là hiệu quả nhất. Một điểm yếu thật sự.
Kích thước của virus chỉ vài chục nanomètre và tên của nó là A/H1N1. Virus
cúm mà những nạn nhân đầu tiên đã được thống kê vào cuối tháng ba ở Mễ
Tây Cơ, đã gieo sự hoảng sợ trên hành tinh trong vài ngày. Tuy vậy không
phải chính nó mà mọi người đã chờ đợi. Thật vậy, từ 10 năm nay, các nhà
hữu trách y tế đã tập trung sự chú ý vào một virus, H5N1, là nguyên nhân
của một làn sóng dịch cúm nơi các loài chim ở Nam Á, trước khi lan tràn
lên khắp các lục địa. Mặc dầu khó có thể truyền bệnh giữa người với người,
H5N1 tuy vậy chỉ mới đây thôi, được xem như là ứng viên quan trọng nhất
cho một đại dịch cúm toàn cầu có thể xảy ra. Quan trọng đến độ hầu hết
các nước, khi có phương tiện, đã quyết định hiệu chính những kế hoạch
phòng ngừa nhằm đối phó tốt nhất với mối đe dọa. Nội dung của kế hoạch
? Cách ly bệnh nhân, cấp phòng ngừa các thuốc chống virus và phân phát
đại trà các mặt nạ. Dầu thủ phạm là H5N1, H1N1 hay mọi virus cúm khác,
tất cả những kế hoạch này, sau cùng dựa trên cùng một dữ kiện : trong
gần 99% các trường hop, virus cúm được truyền bằng đường không khí qua
những giọt nước nhầy (postillons de mucus) bị nhiễm trùng, mà bệnh nhân
phóng thích ra trong không khí mỗi khi ho hay thở. Vậy, trong trường hợp
không có vaccin, phương tiện hiệu quả nhất để tránh bị bệnh, ngoài việc
cách ly tuyệt đối, trên nguyên tắc là mang một mặt nạ. Vâng, nhưng loại
mặt nạ nào? Vấn đề càng được đặt ra vì tất cả các mặt nạ không có giá
trị ngang nhau khi bảo vệ chống lại một nhiễm trùng! Để hiểu, phải biết
rằng các hạt chất nhầy (particules de mucus) mà chúng ta rải rắc trong
không khí mỗi lần chúng ta ho, tất cả không có cùng một kích thước. Trong
thực tiễn, khoa học phân biệt hai loại : các giọt nhỏ (gouttelettes),
đường kính trên 5 micromètre, và các xon khí (aérosol) đường kính dưới
5 micromètre.Thoạt nhìn, sự khác nhau có thể có vẻ không đáng kể. Không
hề là như vậy. Những mặt nạ có hiệu quả chống lại các giọt nhỏ không nhất
thiết là như vậy đối với các xon khí (aérosol). Thế mà, đây là điểm mấu
chốt của vấn đề : trong khi các kế hoạch bảo vệ đều nhấn mạnh vào những
hạt to lớn nhất, thì lại dường như đánh giá thấp các hạt nhỏ nhất. Do
đó, một sự lựa chọn các mặt nạ và các dân số virus, mà những mặt nạ này
nhắm vào, có thể là một trong những thiếu sót ít được đánh giá nhất của
các kế hoạch chống đại dịch. Bởi vì có hai loại mặt nạ rất khác nhau có
những chức năng cũng rất khác nhau: những mặt nạ này được gọi là anti-projection,
còn được gọi là mặt nạ ngoại khoa (masques chirurgicales) và có mục đích
tránh cho những người mang chúng đừng làm lây nhiễm môi trường ngay chung
quanh bởi các giọt nhỏ mà họ phóng thích ra; nói chung những mặt nạ này
dành cho các người bệnh. Những mặt nạ khác, được gọi là hô hấp (masques
respiratoires) (FFP2), có thể nói là lọc không khí và được dành để bảo
vệ những người lành mạnh chống lại những chất ô nhiễm hóa học hay sinh
học. Được đặt thích ứng vào mặt để tránh rò khí, có khả năng giữ lại những
hạt nhầy nhỏ bé nhất, chỉ có những mặt nạ hô hấp này mới mang lại một
sự bảo vệ thật sự chống lại các virus.
KHÔNG CÓ MẶT NẠ HÔ HẤP CHO CÁC CÔNG DÂN
Tuy vậy, ở Canada, Úc và Anh, những kế hoạch chống đại dịch cúm chỉ chủ
trương dùng các mặt nạ ngoại khoa (masque anti-projection), bao gồm cả
khi để bảo vệ nhân viên điều trị. Hoa Kỳ và Pháp thì cẩn trọng hơn bởi
vì các kế hoạch của hai nước này dự kiến trang bị cho nhân viên y tế tiếp
xúc với bệnh nhân, những mặt nạ hô hấp (masque respiratoire). Didier Houssin,
tổng giám đốc y tế, chịu trách nhiệm việc soạn thảo kế hoạch chống dịch
của Pháp, nhắc lại rằng “ từ 500.000 đến 600.000 mặt nạ hô hấp đã được
tích trữ để dự phòng một trận đại dịch ”. Và ông nhấn mạnh rằng “ tất
cả các xí nghiệp và các cơ quan hành chánh, trong đó nhân viên tiếp xúc
với công chúng, phải được trang bị các mặt nạ hô hấp ”
Ngược lại, không có mặt nạ hô hấp cho các công dân đơn thuần! Những đối
tượng này sẽ tự trang bị các mặt nạ ngoại khoa (masque chirurgical). Và
ngay cả khi họ sẽ tiếp xúc mật thiết với các người bệnh, như trong trường
hợp cách ly kiểm dịch (quarantaine) (dự kiến rằng những người bị nhiễm
bởi virus vẫn ở tại nhà trong lòng gia đình của họ). Đối với những người
đó, kế hoạch chỉ khuyến nghị sử dụng tại gia cũng như ở những nơi công
cộng “một mặt nạ ngoại khoa để phòng ngừa”. Ngoài ra, một tỷ mặt nạ dự
trữ đã được hình thành. Lời khuyến nghị thật đáng ngạc nhiên bởi vì cũng
kế hoạch này lại dự kiến các mặt nạ hô hấp (masques respiratoires) cho
nhân viên điều trị tiếp xúc với các bệnh nhân. Cac mặt nạ ngoại khoa chỉ
bảo vệ các hạt lớn chất nhầy (những giọt nhỏ), và trái với các mặt nạ
hô hấp, không hề bảo vệ các hạt nhỏ nhất (các aérosol). Bằng cớ là những
kết quả sơ khởi, được công bố cuối năm 2008, của một công trình nghiên
cứu, được tài trợ bởi Trung tâm nghiên cứu các bệnh tật Hoa Kỳ (CDC),
Atlanta, lần đầu tiên cố gắng đánh giá tác dụng bảo vệ của các mặt nạ
ngoại khoa : được sử dụng cùng với động tác rửa tay bằng alcool, các mặt
nạ ngoại khoa cho phép làm giảm tỷ lệ mắc phải bệnh cúm từ 10% đến 50%,
nhưng người ta không biết tác dụng thật sự của những mặt nạ này lúc được
dùng đơn độc như thế nào. Bởi vì, theo Allison Aiello, đồng tác giả của
ấn bản, “những mặt nạ này được làm ra không phải để bảo vệ các anh chống
lại những hạt nhỏ chất nhầy… và nếu chúng có một tác động lên tỷ lệ bệnh
tật, đó là bởi vì chúng chận đứng những hạt lớn nhất và chúng ngăn cản
không để cho đưa tay bẩn và có thể bị lây nhiễm lên miệng hay ngăn cản
dụi mắt với các bàn tay”
CÁC KẾT QUẢ RẤT LÀ KÉM
Mặt khác, trái với các kế hoạch của chính phủ, các nhà chế tạo đúng là
khuyến nghị việc đeo các mặt nạ hô hấp đối với những người tiếp xúc với
các bệnh nhân, kể cả công chúng! Và mặc dầu Didier Houssin cố trấn an
về khả năng bảo vệ của các mặt nạ ngoại khoa (masques anti-projection)
lúc chỉ rõ rằng “những biện pháp đang được tiến hành phải cho phép xác
định xem nhiên hậu chúng có cũng bảo vệ chống lại các xon khí (aérosol)
hay không”, nhưng Isabelle Balty, phụ trách về các nguy cơ sinh học ở
INRS, (viện đặc biệt chịu trách nhiệm sự giám định các mặt nạ ở Pháp),
thì rất là rõ ràng: “Cách nay vài năm, chúng ta đã thử nghiệm các mặt
nạ ngoại khoa (masque anti-projection) để biết xem chúng có hiệu quả chống
lại các xon khí (aérosol) hay không, tất cả các kết quả đã rất là xấu”.
Thế mà, một bộ phận quan trọng trong số 10.000 đến 1 triệu các hạt mà
một bệnh nhãn phóng ra mỗi lần ho, lại đúng là dưới dạng xon khí.
Tại sao, trong trường hợp như vậy, đã không dự kiến bảo vệ dân chúng chống
lại cách lây nhiễm này ? Rất đơn giản là bởi vì, “ phần lớn các tài liệu
khoa học đă kết luận rằng chính chủ yếu các hạt nhỏ (gouttelettes) làm
lan tràn bệnh tật và rằng sự lây nhiễm bởi các xon khí (aérosol) là không
đáng kể ”, Anne Mosnierda, nữ điều phối viên quốc gia của các nhóm quan
sát cúm đã giải thích như thế. Nhưng các chuyên gia dường như không đồng
ý về quan điểm này và đối vối vài người thì các xon khí không những không
hẳn là một cách lây nhiễm không đáng kể, mà nhiên hậu chúng là phương
cách chủ yếu qua đó bệnh cúm lan tràn. Chính đó là quan điểm của Raymond
Tellier, chuyên gia vi trùng học của đại học Toronto, đã công bố, vào
năm 2007, một biên tập gồm tất cả những gì đã được viết về chủ đề này
từ hơn 50 năm. Các kết quả : đối với ông, những lời khuyến nghị của các
kế hoạch chẳng khác nào phủ nhận những kết quả của những công trình nghiên
cứu khoa học của nhiều thập niên ”. Thí dụ như, ngay năm 1966, một công
trình nghiên cứu, được tiến hành trên các cobayes người, đã cho thấy rằng
sự lây nhiễm bởi các xon khí có thể xảy ra và, ngoài ra, phương thức lây
nhiễm này đòi hỏi lượng virus 100 đến 1000 lần ít hơn so với phương thức
lây nhiễm bằng các hạt nhỏ. Khoảng 10 năm sau, hai công trình nghiên cứu,
lần này, đã xác nhận rằng những cá nhân bị nhiễm trùng trong thí nghiệm
bằng đường xon khí bị một dạng bệnh nặng hơn. Và không phải chỉ có thế.
Bởi vì, trái với các giọt nhỏ, do kích thước của chúng, giảm nhanh đến
độ biến mất hoàn toàn khỏi bầu không khí trong vài phút, các xon khí có
thể ở lại trong không khí nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần bởi vì chúng
khá nhẹ nên có thể nổi bồng bềnh trong không khí. Nói một cách khác, các
xon khí (aérosol) thể hiện một mối nguy cơ gây nhiễm kéo dài hơn so với
các hạt nhỏ.Yếu tố giới hạn duy nhất ở đây là thời gian sống còn của virus
dưới dạng xon khí, khi biết rằng virus dễ bị thương tổn dưới tác dụng
của các tia cực tím, sự làm khô và sự oxi hóa. Thế mà, nhiều công trình
nghiên cứu, được công bố trong những năm 1950 và 1960, đã cho thấy rằng
một virus cúm có thể tồn tại và bảo tồn khả năng gây nhiễm của nó đến
24 giờ nếu độ ẩm tương đối (degré d’hygrométrie) vẫn dưới 40% hay vượt
quá 60%. Nói tóm lại, như vậy các xon khí cho phép một số lượng virus
nhỏ hơn gây nhiễm trong một khoảng thời gian dài hơn và những người bị
nhiễm bệnh sẽ phát triển các dạng bệnh nghiêm trọng hơn.
DỄ DÙNG VÀ TIỆN NGHI LÚC SỬ DỤNG.
Trong những tình trạng này tại sao không cho tất cả mọi người các mặt
nạ hô hấp ? Không phải là đơn giản như vậy. Và điều đó vì nhiều lý do.
Trước hết sự phổ biến đại trà sẽ rất tốn kém. Một mặt nạ hô hấp loại FFP2
trị giá khoảng 30 centime, trong khi mặt nạ ngoại khoa chỉ tốn 3-4 centime.
Sau đó, các khả năng sản xuất quá bị giới hạn không thể đương đầu với
nhu cầu mang lại do việc sử dụng đại trà các mặt nạ hô hấp. Thật vậy,
được thiết kế cho những nhân viên y tế, những mặt nạ sử dụng một lần duy
nhất này phải được thay thế tối đa mỗi 8 giờ và kể cả được khuyến nghị
thay đổi mỗi khi người ta rút chúng ra để ăn hay uống. Những nhu cầu sẽ
là to lớn. Sau cùng, “ các mặt nạ hô hấp khó mang và khó chịu được trong
một thời gian dài bởi vì chúng cản trở sự hô hấp ”, Didier Houssin đã
giải thích như vậy.
Sau hết, mặc dầu H1N1 tỏ ra độc lực kém hơn virus của cúm Tay Ban Nha
đã gây nên 40 đến 100 triệu nạn nhân vào năm 1917, tuy vậy bóng ma của
một trận đại dịch xuất hiện vào thế kỷ XXI vẫn không thể được loại bỏ
một chút nào. Và ngày đó, sẽ là quá muộn khi tự hỏi các mặt nạ mà các
kế hoạch phòng ngừa dự kiến nhằm làm rào chắn giữa virus và dân chúng
có thật sự hữu hiệu hay không. (SCIENCE ET VIE 6/2009)
3/ CÓ THỂ CÓ MỘT SỰ LAN TRÀN VƯỢT
ĐẠI TÂY DƯƠNG ?
Trong khi các kế hoạch chống đại dịch cúm còn xem các xon khí (aérosols)
như là một phương thức lan tràn không đáng kể của virus, ngay ở kế cận
với bệnh nhân, ngay năm 1989, các nhà khoa học đã đưa ra giả thuyết rằng
các hạt xon khí này sẽ là nguyên nhân của sự lây nhiễm liên lục địa !
Vào thời kỳ đó, Gregory Hammond, chuyên gia vi trùng học thuộc đại học
Manitoba (Canada), đã cho thấy rằng các xon khí bị lây nhiễm bởi cúm chỉ
cần dưới hai tuần để đi từ Trung Quốc qua Châu Mỹ. Điều này giải thích
đồng thời tính chất xảy ra theo mùa của các dịch bệnh và tính chất nhanh
chóng của sự lan tràn. Chỉ có điều là chẳng ai đã thật sự tin vào giả
thuyết này, vì lẽ sự việc một virus có thể sống sót hai tuần trong không
khí mà không bị hủy diệt bởi sự oxi hóa, sự làm khô hay sự bức xạ bởi
các tia cực tím, dường như là điều không thể có được. Nhưng một công trình
nghiên cứu, được tiến hành năm 2001 bởi Dale Griffin thuộc US Geological
Survey ở Florida, đã chứng tỏ rằng một virus đã tồn tại lúc vượt Đại Tây
Dương giữa Châu Phi và Caraibes. Giải thích làm sao ? Bằng cách sử dụng
các xon khí khác (trong trường hợp này là các bụi bặm của Sahara), làm
vỏ giáp để bảo vệ chống lại những tấn công bên ngoài. Đối với Christina
Kellog, một nữ đồng nghiệp của Dale Griffin, “ Các bụi bặm sa mạc được
xuất khẩu từ Châu Phi qua Nam Mỹ hay từ Trung Quốc về phía Bắc Mỹ, tạo
nên những cầu không khí thật sự ”, cho phép các vi sinh vật di chuyển
từ lục địa này qua lục địa khác. (SCIENCE ET VIE 6/2009)
4/ PHÓNG TINH SỚM : MỘT PHUƠNG
PHÁP ĐIỀU TRỊ.
Cứ 4 người đàn ông thì có một bị liên hệ bởi chứng bệnh này. Một thuốc
phun dùng tại chỗ, chứa các thuốc gây tê tại chỗ (lidocaine và prilocaine),
làm quy đầu bị mất cảm giác một phần, có thể phun 5 phút trước khi giao
hợp, cho phép làm chậm lại sự phóng tinh mà không gây hại cho cảm giác.
Các kết quả thỏa mãn của một công trình trên 300 người đã được trình bày
tại hội nghị Niệu khoa của Hoa Kỳ. (PARIS MATCH 11-17/6/2009)
5/ FIBROMYALGIE, MỘT CẢM NHẬN BẤT
THƯỜNG VỀ ĐAU ĐỚN.
Ở Hoa Kỳ, một thuốc điều trị, milnacipran, vừa được chấp thuận cho 6 triệu
bệnh nhân. G.S Patrick Cherin (Khoa Nội, Bệnh viện Pitié-Salpêtrière)
giải thích tác dụng của thuốc này.
Hỏi : Ông có thể mô tả fibromyalgie, một
hội chứng không được đánh giá đúng, tuy vậy gây bệnh cho 2% dân Pháp ?
B.S Patrick Cherin : Fibromyalgie gây bệnh theo tỷ suất 8 phụ nữ đối với
2 đàn ông và được biểu hiện bởi 4 dấu hiệu chính: 1. Đau cơ và khớp tỏa
lan. 2. Mệt mỏi quan trọng (suy nhược). 3. Các rối loạn giấc ngủ, không
còn bù được nữa. 4. Sự tồn tại những điểm rất đau ở các mức rất chính
xác của cột sống thắt lưng hay vai…Chất lượng sống của những người bị
bệnh (bệnh bắt đầu giữa 30 và 40 tuổi) là rất bị ảnh hưởng, với nhiều
lần nghỉ việc.
Hỏi : Nguyên nhân của hội chứng này là gì
?
B.S Patrick Cherin : Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện từ hơn 30 năm
nay. Những nguồn gốc cơ, nội tiết, di truyền vốn được nghi ngờ, đã dần
dần bị loại bỏ. Cuối cùng, người ta đã khám phá ra rằng cơ chế của hội
chứng này, trong đó sự tri giác đau đớn bị biến đổi, là do tình trạng
stress nặng (mauvais stress). Tôi giải thích : nơi những bệnh nhân này,
sau một loạn năng của các chất dẫn truyền thần kinh của đau đớn (những
chất trung gian hóa học này bị cạn kiệt do một stress quá mạnh hay kéo
dài), đã xảy ra một hiện tượng phong bế với sự hạ giảm khả năng dung nạp
đau đớn (la tolérance à la douleur). Trong não bộ, trong trường hợp stress,
các phản ứng sinh hóa, phát khởi sự tiết vài loại chất như sérotonine,
không được thực hiện một cách bình thường.
Hỏi : Những thầy thuốc chuyên khoa nào có
thể chẩn đoán và điều trị bệnh này ?
B.S Patrick Cherin: Thường thường các thầy thuốc chuyên khoa khớp đảm
trách những bệnh nhân này và việc thiết lập chẩn đoán không phải là dễ
dàng. Các thầy thuốc của những trung tâm chống đau đớn (centre antidouleur)
cũng nhận nhiều bệnh nhân vì những cơn đau làm mất năng lực.
Hỏi : Trước khi được chẩn đoán, những người
bị bệnh này có được thầy thuốc thấu hiểu không ?
B.S Patrick Cherin : Có thể bệnh nhân phải lang thang qua nhiều chuyên
khoa (errance médicale). Thường thường đi đâu những bệnh nhân này đều
được nghe nói “ Đó là bệnh tưởng, bệnh ở trong đầu ”. Chẩn đoán bệnh fibromyalgie
chỉ được xác lập sau khi đã loại bỏ những nguyên nhân khác và đối với
nhiều bệnh nhân, sau khi đã phải đi thăm khám nhiều chuyên khoa.
Hỏi : Thường thường điều trị như thế nào
và các kết quả ra sao ?
B.S Patrick Cherin : Điều trị được căn cứ trên 3 bước. 1. Điều trị stress
tâm lý, bằng nhận thức hay hành vi liệu pháp (thérapie cognitive et comportementale)
để học cách quản lý stress. 2. Điều trị đau đớn, không chỉ bằng các thuốc
thông thường, nhưng cũng bằng những liệu pháp tự nhiên như châm cứu, sophrologie…3.
Một hoạt động vật lý đặc hiệu để luyện cơ đều đặn và dần dần. Những công
trình nghiên cứu đã cho phép quan sát, nhờ các tập luyện này, một sự giảm
20% các triệu chứng mệt và đau đớn.
Hỏi : Ở Hoa Kỳ, Milnacipran vừa được chấp
thuận để điều trị bệnh fibromyalgie. Tác dụng của nó là gì ?
B.S Patrick Cherin : Thuốc này, ở não bộ, có tác dụng điều biến lượng
của hai chất trung gian của stress và của đau đớn, sérotonine và noradrénaline.
4 công trình nghiên cứu rộng lớn của Hoa Kỳ, với thời hạn từ 3 tháng đến
1 năm và bao gồm tổng cộng hơn 3000 bệnh nhân, đã cho những kết quả tốt.
Người ta đã có thể quan sát thấy một sự cải thiện đáng kể các triệu chứng
đau đớn, mất ngủ và mệt mỏi. Một vài người tham gia của công trình nghiên
cứu này đã có thể, nhờ điều trị, tiếp tục trở lại hoạt động nghề nghiệp
của mình.
Hỏi: Có những tác dụng phụ hay không ?
B.S Patrick Cherin : Từ 10 đến 20% các bệnh nhân đã cảm thấy đau đầu,
nôn hay hồi hộp. Nhưng những tác dụng phụ này là tạm thời và ngừng ngay
khi ngừng điều trị.
Hỏi : Milnacipran bao lâu nữa sẽ được thương
mãi hóa ?
B.S Patrick Cherin : Những cuộc thử nghiệm đã được tiến hành trong nhiều
nước khác nhau ở châu Âu với cùng những kết quả như ở Hoa Kỳ. Hồ sơ đang
được xem xét. Yêu cầu đưa thuốc ra thị trường vào mùa hè này hẳn sẽ được
đáp ứng. (PARIS MATCH 20/5-27/5/2009)
6/ CÀNG NGÀY CÀNG CÓ NHIỀU NƯỚC
THIẾU PHỤ NỮ : “ SỰ CHỌN LỌC TIỀN SINH ĐANG PHÁT TRIỂN ”
Việc xã hội ưa thích con trai đang khiến cho các phụ nữ, trong vài nước
châu Á, thực hiện những sẩy thai chọn lọc (avortements sélectifs). Đã
được biết đến ở Trung Quốc và Ấn Độ, hiện tượng này đang phát triển ở
Việt nam, nơi mà tỷ suất giới tính vào lúc sinh (SRN : sex-ratio à la
naissance, hoặc số con trai sinh ra đối với 100 con gái) đã lên đến 112
vào năm 2007, tức là 7 điểm trên mức “ tự nhiên ” 105. Đó là điều mà Christophe
Z.Guilmoto, nhà nhân khẩu học, giám đốc nghiên cứu của trung tâm dân số
và phát triển ở Paris, đã cho thấy trong một công trình nghiên cứu được
đăng tải bởi tạp chí khoa học on line Plos One.
Hỏi : Việc gia tăng số con trai ở Việt nam
phải chăng là hiện tượng mới xảy ra gần đây ?
Christophe Z. Guilmoto : Những con số có được vào lúc thống kê năm 1999
đã không cho thấy một bất thường nào. Chúng tôi được tham khảo những dữ
kiện mới đây hơn, cho thấy, bắt đầu từ năm 2004, một sự gia tăng số con
trai theo đường thẳng và một cách đáng kể.
Hỏi : Làm sao giải thích hiện tượng này ?.
Christophe Z. Guilmoto : Từ nhiều năm nay, chính phủ Việt Nam giới hạn
sinh đẻ và mỗi gia đình chỉ được có hai con. Theo truyền thống, con trai
đóng một vai trò xã hội và tôn giáo, đại diện cho giòng giống, thị tộc.
Tất cả điều đó đã không xuất hiện một sớm một chiều. Sự thay đổi trong
các thái độ là do sự phổ biến trong nước của các máy siêu âm từ năm 2000.
Mặt khác, việc phá thai đã là một việc làm thông thuờng ở Việt Nam.
Hỏi : Sự kiểm tra sinh đẻ có chịu trách nhiệm
về sự chọn lọc tiền sinh (sélection prénatale) này hay không ?
Christophe Z. Guilmoto : Trước đây, người ta đẻ con cho đến khi có được
một đứa con trai rồi người ta dùng một phương pháp ngừa thai. Ngay những
năm 1980, người ta cũng quan sát nhận thấy ở Việt nam rằng ¾ những em
bé đẻ sau cùng là con trai. Nhưng phương cách này, trở thành không có
thể thực hiện với sự kiểm soát sinh đẻ, trên thực tế, tạo một sức ép lên
sự chọn lọc giới tính của trẻ em. Ở Trung Quốc, nơi sự kiểm soát sinh
đẻ nghiêm khắc hơn so với Việt nam và là nơi sự thực hiện siêu âm đã phát
triển ngay từ năm 1982, tỷ suất giới tính vào lúc sinh (SRN) gia tăng
từ đầu những năm 1980 và đã đạt trị số 120 vào năm 2005, thậm chí 130
trong những tỉnh Jiangxi, Anhui và Shaanxi.
Hỏi : Tuy vậy hiện tượng này cũng ảnh hưởng
đến Ấn Độ, mặc dầu ở đây không có kiểm tra sinh đẻ.
Christophe Z. Guilmoto : Tỷ suất giới tính vào lúc sinh (SRN) trung bình
ở Ấn Độ là 113, với những khác nhau to lớn giữa các vùng. Phía bắc Ấn
Độ thể hiện một sự ghét cay ghét đắng đối với con gái, bởi vì của hồi
môn là một gánh nặng đối với cha mẹ. Trong tỉnh Punjab, SRN là 125 vào
năm 2005, mặc dầu không có áp lực chính trị đối với việc kiểm soát sinh
sản. Ngay trong thủ đô Delhi, tỷ số trên 120.
Người ta cũng nhận thấy các SRN cao, mặc dầu không hề bị có chính sách
kiểm tra sinh đẻ, ở Đài Loan và Singapour, ở Pakistan và ở Bangladesh.
Sau cùng, người ta khám phá một sự gia tăng SRN trong miền nam Caucase,
ở Arménie, ở Géorgie, ở Azerbaidjan, nơi đây tỷ số lên đến 115 vào năm
2000. Ở đó đôi khi người ta ghi nhận nhiều sẩy thai hơn là sinh đẻ ! Khuynh
hướng cũng y hệt, nhưng với một mức thấp hơn, ở Albanie và Monténégro.
Hỏi : Những hậu quả của việc ưa thích con
trai là gì ?
Christophe Z. Guilmoto : Những hậu quả, đó là toàn bộ xã hội dung nạp
một sự phân biệt giới tính ngay từ gốc. Sexisme trở thành một chuẩn mực
được ghi vào trong những nghi thức xã hội.
Hai mươi hoặc hai mươi lăm năm sau, sự thiếu con gái làm xáo trộn trầm
trọng thị trường hôn nhân, trong những xã hội mà việc cưới hỏi là bắt
buộc. Sự bất quân bình dẫn đến những cuộc di trú kết hôn (migration de
mariage). Đàn ông khó tìm ra một vị hôn thê, phải đi kiếm ở những nơi
khác. Trái lại, các phụ nữ buộc phải di trú về các thành phố và những
vùng được ưu đãi hơn, thậm chí những nước láng giềng, nơi mà sự thiếu
đàn bà tạo cho họ một cơ may tìm những ông chồng có đẵng cấp xã hội cao.
Hỏi : Một vài phân tích tiên đoán những xung
đột liên kết với việc thiếu phụ nữ. Ông nghĩ như thế nào ?
Christophe Z. Guilmoto : Tôi nghĩ rằng các hệ thống xã hội sẽ thích ứng.
Sự không cưới hỏi sẽ được công nhận như là một đường đời bình thường,
điều này rất khó được chấp nhận ở châu Á. Ở Ấn Độ, nhất là ở Punjab, sự
thiếu phụ nữ cũng đã bắt đầu làm rạn nứt hàng rào đẳng cấp : đàn ông lấy
làm vợ những người thuộc đẳng cấp dưới, điều này hoàn toàn không thể quan
niệm được cách nay không lâu.
Hỏi : Những hiện tượng sinh đẻ chọn lọc này
có dài lâu không ?
Christophe Z. Guilmoto : Một vài nhà nghiên cứu cho rằng Trung Hoa, Ấn
Độ và Caucase cho thấy những dấu hiệu của sự hạ tỷ suất giới tính lúc
sinh (SRN), loan báo sự chấm dứt của một chu kỳ, sự chọn lọc tiền sinh,
sau cùng, chỉ là một lệch lạc tạm thời. Ở Nam Triều Tiên, tỷ suất giới
tính lúc sinh đã leo cao như ở Trung Quốc trước khi trở lại bình thường
vào năm 2007. Có được điều này là nhờ sự tiến hóa của xã hội, các phụ
nữ được tiếp cận với giáo dục học hành, với thị trường công ăn việc làm.
Nhưng nhất là nhờ tác động của chính phủ đã cải cách chính sách gia đình
và triển khai một bộ máy trấn áp chống lại việc chọn lọc sinh đẻ này.
(LE MONDE 20/5/2009) Đọc thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr122.htm
(TSYH 122, bài số 4)
7/ RUNG NHĨ : KỸ THUẬT TẦN
SỐ PHÓNG XẠ ĐƯỢC XÁC NHẬN LÀ ĐIỀU TRỊ CÓ HIỆU QUẢ NHẤT
Hội nghị quốc tế về nhịp tim học đã diễn ra ở Boston. Nhiều báo cáo về
bệnh rung nhĩ (fibrillation auriculaire) (thường xảy ra nhất trong những
rối loạn nhịp tim) đã được trình bày. Tần số phóng xạ (radiofréquence)
đã được công nhận như là phương pháp điều trị hiệu quả nhất. Mặc dầu kỹ
thuật xâm nhập, nhưng các kết quả rất là có sức thuyết phục. Kỹ thuật
tần số phóng xạ nhằm đưa một ống thông (sonde) qua đường tĩnh mạch vào
trong tim, đến tận tâm nhĩ trái và phá hủy bằng siêu âm các vùng chịu
trách nhiệm rối loạn nhịp tim này. Trong một công trình nghiên cứu so
sánh nơi 167 bệnh nhân, tần số phóng xạ đã đảm bảo tỷ lệ 63% thành công
vĩnh viễn, so với 17% khi dùng thuốc, và ưu điểm có một chất lượng sống
tốt hơn. (PARIS MATCH 4-10/6/2009) Đọc
thêm :
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr121.htm
( TSYH 121, bài số 3)
http://www.yduocngaynay.com/1-1NgVThinh_News_nr114.htm
(TSYH 14, bài số 5)
8/ XƠ GAN : NGỪNG UỐNG KHÔNG
BAO GIỜ LÀ QUÁ MUỘN.
Ngạn ngữ của các chuyên gia về xơ gan do rượu : ngừng uống không bao giờ
là quá muộn. Nhưng điều này không có nghĩa là sự từ bỏ uống rượn có thể
không ngừng được trì hoãn.
Chính như vậy mà BS Nick Sheron của Đại học Southhampton (Vương Quốc Anh),
đã tóm tắt công trình nghiên cứu dài hạn, mà những kết luận được đăng
tải trong tờ báo khoa học Addiction. Một nghiên cứu lâm sàng trên các
sinh thiết của 100 bệnh nhân, được thực hiện giữa tháng giêng 1995 và
tháng 12/ 2000, và các kết quả đã được so sánh với các thống kê tử vong,
thu được bởi một trung tâm quốc gia chuyên môn.
Từ đó rút ra kết luận là, nếu một bệnh nhân ngừng uống ngay sau khi được
chẩn đoán xơ gan nghiêm trọng do rượu, thì khả năng sống sót lâu dài,
cao hơn nhiều sau một tháng, so với cơ may sống sót của một người bệnh
với xơ gan ít trầm trọng hơn, nhưng vẫn tiếp tục uống rượu. Nói chính
xác hơn : tỷ lệ sống còn sau 7 năm là 72% đối với người ngừng rượu so
với 44% đối với người tiếp tục uống. Lý do khiến BS Sheron nêu ra nhận
xét : “ Ở mức cơ bản nhất, việc điều trị một bệnh nhân nghiện rượu là
nhằm duy trì anh ta sống đủ lâu để có thể ngưng uống rượu, và sau đó tối
đa hóa những khả năng của anh ta kiên trì cai rượu.” Và nhấn mạnh rằng,
về vấn đề này, một chánh sách y tế có trách nhiệm phải nhằm nâng đỡ các
bệnh nhân, để giúp họ chống lại rượu. (LE SOIR 18/4-19/4/2009)
9/ THƯƠNG SỐ THÔNG MINH THẤP HƠN
NƠI CÁC TRẺ ĐƯỢC HỒI SINH.
Tình trạng giảm oxy-mô (hypoxie périnatale) và tăng thán huyết (hypercapnie)
có thể dẫn đến những vấn đề thần kinh nghiêm trọng. Theo một công trình
nghiên cứu của Anh, các em bé được hồi sinh và không bị các thương tổn
lâm sàng, về sau cũng có nguy cơ có một thương số thông minh dưới mức
trung bình. Theo OMS, sự ngạt thở chu sinh (asphyxie périnatale) sẽ là
nguyên nhân của 1/5 các trường hợp tử vong sơ sinh. Tuy nhiên, số các
trẻ em sống sót, sau này phát triển những rồi loạn phát triển, không được
biết đến.
Năm 1976, Sarnat đã xếp loại bệnh não do thiếu máu cục bộ (encéphalopathie
ischémique) là nhẹ, trung bình hay nặng tùy theo mức độ nghiêm trọng của
các triệu chứng thần kinh. Được xem là nhẹ trong trường hợp tăng cảnh
giác (hypervigilance) và rất dễ bị kích thích. Giảm trương lực cơ kèm
theo bại liệt được xem như một hội chứng trung bình, trong khi một tình
trạng sững sờ (état stuporeux) với sự vắng mặt của các phản xạ nguyên
phát và một sự chậm phát triển, biểu hiện những di chứng trầm trọng nhất.
Mãi đến nay, người ta cho rằng, những đứa trẻ, sau khi được hồi sinh,
không có triệu chứng hay có những bất thường thần kinh nhẹ, nhiên hậu
vào lúc chúng bắt đầu đi học, sẽ không khác với những đứa trẻ của một
nhóm kiểm tra.
CHẬM NHẬN THỨC.
David Odd và các cộng sự viên Anh đã theo dõi trong công trình nghiên
cứu Avon Longitudinal Study hơn 11.000 em bé sinh sau một thai nghén ít
nhất 36 tuần. 815 trẻ (7,1%) đã được hồi sinh vào lúc sinh, nhưng chúng
vẫn không có triệu chứng và không cho thấy một dấu hiệu bệnh não (encéphalopathie)
nào trong khi 58 trẻ (0,5%) đúng là có những di chứng thần kinh. Những
trẻ em được hồi sinh phần lớn có một trọng lượng lúc sinh thấp, được sinh
ra hơi thiếu tháng và có một điểm số Apgar thấp. Những bà mẹ trong lúc
thai nghén có một huyết áp cao hay sốt, và phần lớn ít học.
Khoảng 50 % các trẻ đã chịu những trắc nghiệm nhận thức (tests cognitifs)
vào lúc 8 tuổi. Những điểm số nơi các trẻ em được hồi sinh, nhìn toàn
bộ, là ít tốt hơn, điều này không làm ngạc nhiên lắm. Nhưng điều bất ngờ,
đó là những trẻ không có triệu chứng cũng có những điểm số thấp hơn so
với nhóm kiểm tra.
Vậy thì, các nguy cơ vẫn tồn tại trong thời gian, sau một tình trạng thiếu
oxy-mô chu sinh (hypoxie périnatale), biến thiên từ những vấn đề nghiêm
trọng trong sự phát triển đến một trí thông mình kém hơn, nơi những trẻ
không có triệu chứng lúc khởi đầu. Vì lẽ có nhiều trường hợp không có
triệu chứng hơn nhiều những trường hợp các đứa bé với các thương tổn được
biểu hiện lâm sàng, nên các tác giả kết luận rằng những hậu quả của một
tình trạng thiếu oxy-mô và của một thủ thuật hồi sinh thật ra quan trọng
hơn là đã được dự kiến. Để đánh giá tầm quan trọng thật sự của thiếu oxy-mô
chu sinh, có lẽ sẽ phải cần đến những tiêu chuẩn khác với việc chỉ đánh
giá thần kinh không thôi, như các chỉ dấu sinh hóa học xác định mức độ
nhiễm axit chuyển hóa, điện tâm đồ và RMN. (LE JOURNAL
DU MEDECIN 26/5/2009)
10/ CÁ, HỒ ĐÀO VÀ OLIVE CHỐNG
BỆNH THOÁI HÓA ĐIỂM VÀNG DO TUỔI TÁC (DMLA).
Việc gìn giữ một thị giác tốt cũng có thể phụ thuộc vào chế độ ăn uống.
Trong les Archives d’Ophtalmologie, một tạp chí của Hoa Kỳ, được công
bố hôm nay, các thầy thuốc người Úc của đại học Sidney cho thấy rằng một
chế độ ăn uống giàu hồ đào (noix), cá hay dầu olive, làm giảm nguy cơ
bị thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (DMLA : dégénérescence maculaire liée
à l’âge). Hiện nay, ở Pháp, sự biến đổi thị giác trung tâm này của võng
mạc tác động lên 500.000 người, ở những mức độ khác nhau. Ngược lại, những
axít béo được gọi là trans (những chất béo thực vật được bảo hòa bởi một
phương thức công nghiệp để cải thiện sự tiêu thụ chúng) có một tác dụng
có hại lên thị giác. Hiện nay, ở Pháp cũng như trong những nước kỹ nghệ
hóa khác, DMLA là nguyên nhân chính của thị lực kém (malvoyance) nơi những
người trên 65 tuổi. Những yếu tố nguy cơ dĩ nhiên là tuổi tác, cũng như
tố bẩm di truyền (prédisposition génétique) và hút thuốc lá.
Để đánh giá mối liên hệ giữa chế độ ăn uống và DMLA, các nhà nghiên cứu
người Úc đã quan tâm đến chế độ ăn uống, và đặc biệt là sự tiêu thụ mỡ,
của 2454 người tuổi hơn 65, từ năm 1992 đến 1994 và đã chụp hình võng
mạc. 10 năm sau, các kết quả cho thấy rằng những người ăn cá, ít nhất
một lần mỗi tuần (nhưng cũng ăn hồ đào và dầu olive) có tỷ lệ bị DMLA
30% thấp hơn. Sự tiêu thụ càng quan trọng thì nguy cơ càng ít cao.
Một công trình nghiên cứu thứ hai, được công bố trong cùng tạp chí, đã
kết luận rằng một sự tiêu thụ quá mức axít trans (hiện diện trong viennoiserie
công nghiệp, biscuit và vài món ăn tiền chế khác) làm gia tăng nguy cơ
bị DMLA.
Những công trình nghiên cứu này, nếu được xác nhận, chứng tỏ một cách
rõ ràng một mối liên hệ giữa chế độ ăn uống và sự biến đổi võng mạc do
bệnh DMLA (LE FIGARO 12/5/2009)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH (12/6/2009)
Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |