Cấp Cứu Tâm Thần Số 1 - TỰ TỬ (SUICIDE)
BS NGUYỄN VĂN THỊNH

1/ ĐỊNH NGHĨA CÁC DANH TỪ SAU ĐÂY: suicide, tentative de suicide, idée suicidaire, suicidaire, suicidant, suicidé ?
- Suicide: tự giết hại chính mình (tự tử, tự sát)
- Suicidé: người đã có hành động gây chết người (người tự tử, người tự sát), người chết sau một tự tử thành công.
- Tentative de suicide (suicide attempt): hành vi có mục đích tự sát nhưng không thành công. Đó là sự thể hiện một ý định tự tử bằng hành động (passage à l'acte), một "acting out". Đó là phương tiện duy nhất mà bệnh nhân có để thể hiện một xung đột thật sự (un conflit authentique).
- Suicidant: người sống sót sau một toan tính tự tử, người thực hiện một toan tính tự tử
- Idée suicidaire (suicidal thought) = idéation suicidaire. - khoảng 2/3 các người tự tử nói lên trước đó ý định tự tử của mình
- Suicidaire : người có ý định tự tử hoặc bày tỏ đe dọa sẽ tự tử
2/ THÁI ĐỘ XỬ TRÍ THÍCH HỢP ĐỐI VỚI MỘT BỆNH NHÂN MƯU TOAN TỰ TỬ?
- điều trị nội khoa những tình trạng đe dọa đến mạng sống, trước khi đánh giá tâm thần (psychiatric evaluation).
- điều quan trọng là trong khi tiến hành điều trị, cần duy trì một thái độ không phê phán (nonjudgmental approach).
- trừng phạt hoặc chế diễu đều không có tác dụng điều trị và cũng không phải là cách cư xử thích hợp của những người làm nghề y tế.
- hầu hết những bệnh nhân mưu toan tự tử ít nhất đều là những kẻ nhập nhằng (ambivalent) giữa ý muốn sống hoặc chết.
- làm mất phẩm giá hoặc đối xử thô bạo những bệnh nhân như thế, đặc biệt bởi những người làm nghề y tế, là những kẻ biểu hiện cho uy quyền của y khoa, sẽ làm trầm trọng thêm lòng tự trọng vốn đã thấp và có thể làm cho điều trị tâm thần sau này sẽ khó khăn hơn.
3/ NHỮNG ĐIỀU CẦN THẬN TRỌNG ĐỐI VỚI BỆNH NHÂN TỰ TỬ?
- bởi vì một vài bệnh nhân có thể lập lại toan tính tự tử trong lúc ở phòng cấp cứu, do đó vài biện pháp phòng ngừa là cần thiết.
- những biện pháp phòng ngừa bao gồm lục soát bệnh nhân và thu hồi các vũ khí, thuốc men hoặc những nguyên nhân khác có khả năng gây tự sát, theo dõi bệnh nhân sát, thu hồi bất cứ vật dụng nào có tiềm năng nguy hiểm ở ngay chung quanh bệnh nhân (kim chích, dao mổ, đồ dùng bằng thủy tinh, dao cạo) và không cho phép bệnh nhân đi bất cứ nơi đâu (ví dụ vào buồng tắm) mà không có người đi kèm.
- khi nhân viên không thể theo dõi thường xuyên thì biện pháp cầm giữ bằng phương pháp vật lý (physical restraint) có thể cần đến để bảo vệ các bệnh nhân tự tử thể nặng khỏi phải tự hại mình.
4/ KỂ NHỮNG PHƯƠNG TIỆN ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐỂ TỰ TỬ?
- Treo cổ (pendaison)
- Hỏa khí (armes à feu)
- Uống thuốc độc (intoxication):
- Trong số các phương tiện sử dụng, uống thuốc tự tử đứng hàng đầu, đặc biệt là trong các môi trường thành thị (70% các toan tính tự tử).
- Các phương tiện được sử dụng hoặc được dự kiến sử dụng bởi bệnh nhân thể hiện ý chí muốn thành công hành động tự tử của mình. Một người treo cổ mà dây treo bị nới lỏng sẽ được nhìn với sự thận trọng hơn là một bệnh nhân chỉ uống vài viên thuốc trước sự hiện diện của những người chung quanh, cũng như trường hợp một bệnh nhân thoát nạn không hề hấn gì sau khi nhảy cửa sổ từ nhiều tầng lầu.
5/ TAI NẠN PHẢI CHĂNG CŨNG CÓ THỂ LÀ TOAN TÍNH TỰ TỬ?
- điều quan trọng cần ghi nhớ là những nạn nhân của tai nạn có thể là do họ có ý định tự tử .
- những tai nạn chỉ có một nạn nhân như một chiếc xe hơi đâm vào một cấu trúc béton với tốc độ cao, một người đi bộ bị đụng bởi một chiếc xe chạy nhanh hoặc một người té ngã, là nhũng thí dụ cổ điển về những toan tính tự tử dưới hình thức chấn thương do tai nạn.
- sau khi điều trị, cần đánh giá ý định tự tử. Có thể bàn luận với các thành viên trong gia đình hoặc hội chẩn với BS chuyên khoa tâm thần.
6/ NHỮNG RỐI LOẠN TẤM THẦN NÀO LIÊN KẾT VỚI TOAN TÍNH TỰ TỬ?
- Trong gần 25% trường hợp, có thể phát hiện một bệnh lý tâm thần thật sự.
- bệnh trầm uất thể nặng (major depression), nghiện rượu hoặc ma túy, bệnh tâm thần phân liệt và những rối loạn tư duy khác, các rối loạn nhân cách (personality disorders), hoảng sợ (panic disorder), rối loạn thích ứng (adjustment disorders) và những hợp chứng thực thể não bộ (organic brain syndromes).
- trầm uất thể nặng có thể dẫn tới tự tử với tỷ lệ 15%.
- 15% trong số những bệnh nhân bị trầm cảm u sầu (dépression mélancolique )chết vì tự tử.
- hầu hết các người chết vì tự tử (30-70%) đã bị trầm uất (déprimé) trước khi thực hiện hành động.
- theo ước tính 10-15% các bệnh nhân bị bipolar disorder và 10% các bệnh nhân bị tâm thần phân liệt sẽ kết thúc bằng tự tử.
- nguy cơ tự tử thành công cũng cao đối với các bệnh nhân bị troubles névrotiques et anxieux.
- alcool và toxicomanie có vai trò làm dễ. Những người nghiện rượu mãn tính dễ chuyển qua hành động tự tử không những do tác dụng làm mất ức chế (action désinhibitrice) của rượu mà còn do tình trạng bị cô lập về mặt tình cảm và thiếu những mối quan hệ xã hội của những người này. Cũng vậy, tác dụng làm mất ức chế của héroine có thể khiến một người nghiện ma túy tự tử. Các chất kích thích tâm thần (drogues psychostimulantes), như cocaine hay ecstasy (X.T.C), thường được các thanh thiếu niên sử dụng trong các hộp đêm hoặc các vũ trường, trong giai đoạn “ xuống ” (descente), có thể làm chuyển sang hành động tự tử nghiêm trọng và các rối loạn hoang tưởng suy diễn (troubles délirants interprétatifs).
7/ LÀM SAO ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ TỰ TỬ XẢY RA SAU NÀY TRÊN MỘT BỆNH NHÂN ĐÃ TOAN TÍNH TỰ TỬ?
Những yếu tố sau đây là bộ phận của đánh giá cấp cứu các nguy cơ tự tử: tuổi tác, giống, tình trạng hôn nhân (marital status), nương tựa xã hội (social support), các bệnh tật, các toan tính tự tử trước đây, bệnh sử tự tử trong gia đình, nguy cơ tự tử và khả năng cứu thoát, lợi lộc do hành vi tự tử, bản chất của các bệnh tâm thần, nghiện rượu hoặc lạm dụng thuốc, thái độ, tình cảm và các kế hoạch tương lai của các toan tính tự tử.
8/ NÓI VỀ TẦN SỐ, TỶ SUẤT GIỚI TÍNH VÀ TUỔI XẢY RA TOAN TÍNH TỰ TỬ VÀ TỰ TỬ?
- TOAN TÍNH TỰ TỬ (TENTATIVE DE SUICIDE) :
- ở Pháp, 150.000-180.800 toan tính tự tử / năm.
- hai cao điểm (pics d'incidence) :
- trong thời kỳ thiếu niên: 15-19 tuổi
- sau 45 tuổi đối với nam và sau 65 đối với nữ.
- tỷ suất giới tính: 4 nữ/1 nam
- tỷ lệ toan tính tự tử ở đàn bà quan trọng hơn ở đàn ông (2/1)
- cứ 10 toan tính tự tử có 1 trường hợp đưa đến tử vong
- TỰ TỬ (SUICIDE) :
- ở Pháp, 12.000 trường hợp chết vì tự tử mỗi năm
- ở Hoa Kỳ khoảng 30.000 người tự tử mỗi năm
- incidence: như trong toan tính tự tử
- tự tử là nguyên nhân tử vong hàng đầu của những người trước 35 tuổi.
- tự tử ở các thanh thiếu niên 15-24 tuổi là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai sau tai nạn giao thông.
- tỷ lệ tự tử gia tăng dần trong thời kỳ tuổi thiếu niên, ở nam cũng như nữ.
- số trường hợp tự tử gia tăng theo tuổi
(65% trường hợp tự tử xảy ra sau 45 tuổi).
- tỷ suất giới tính: 4 nam/ 1 nữ.
- tỷ lệ tử vong do tự tử ở đàn ông quan trọng hơn ở đàn bà (2/1).
- tự tử thường xảy ra ở vùng nông thôn hơn là thành thị. Do đó tự tử thay đổi tùy theo vùng.
9/ TUỔI TÁC LIÊN HỆ VỚI NGUY CƠ TỰ TỬ NHƯ THỂ NÀO?
- tự tử thường xảy ra hơn ở những người dưới 25 tuổi và những người già. Ở Pháp, mỗi năm có 1000 trường hợp tử vong do tự tử bởi các thanh niên dưới 25 tuổi, hoặc 10% các nguyên nhân tử vong của lứa tuổi này.
- các bệnh nhân lớn tuổi (đặc biệt là trên 45 tuổi), theo thống kê, dễ thực hiện dứt điểm hành vi tự tử hơn là các bệnh nhân trẻ tuổi hơn. Các bệnh nhân như thế có thể bị mất vợ, cô đơn, bệnh tật hoặc khó khăn về kinh tế ngoài tình trạng trầm uất (dépression).
- tuy nhiên một sự gia tăng đáng lo ngại các trường hợp tự tử trong giới trẻ đã xuất hiện. Tự tử bây giờ là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 3 ở trẻ lứa tuổi từ 5 đến 14 tuổi và là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai ở các thanh thiếu niên từ 14 đến 24 tuổi.
10/ GIỐNG TÍNH ĐÓNG VAI TRÒ GÌ TRONG TỰ TỬ?
- đàn ông có nguy cơ tự tử cao hơn phụ nữ: đàn ông tự tử khoảng 3 lần nhiều hơn phụ nữ. Cứ mỗi 3 toan tính tự tử thì 2 được thực hiện bởi phụ nữ.
- tỷ lệ tự tử thành công (completed suicide) ở nam giới cao hơn so với nữ giới, trong khi đó tỷ lệ toan tính tự tử (attempted suicide) ở phụ nữ cao hơn nam giới. Sự khác nhau này có liên quan với khả năng gây tử vong của những phương tiện sử dụng để tự tử.
- đàn ông thường tự tử bằng những phương tiện bạo hành như súng, đâm dao vào người, treo cổ hoặc nhảy xuống từ một độ cao, trong khi đó phụ nữ sử dụng các phương pháp ít bạo hành và ít dứt khoát hơn, như uống thuốc quá liều.
11/ QUAN HỆ GIỮA TÌNH TRẠNG HÔN NHÂN VÀ NGUY CƠ ĐƯA ĐẾN TỰ TỬ THÀNH CÔNG?
- nguy cơ cao nhất xảy ra ở những người không bao giờ lập gia đình.
- sau đó mức độ nguy cơ giảm dần theo thứ tự : góa chồng hoặc vợ (widowed), ly thân (separated), ly dị (divorced) và kết hôn (married).
12/ VAI TRÒ CỦA HỔ TRỢ XÃ HỘI (SOCIAL SUPPORT):
- Sự cô lập về mặt xã hội và tình cảm cũng như sự mong manh về mặt xã hội và nghề nghiệp sẽ tạo điều kiện cho các hành vi tự tử.
- Thất nghiệp, cô đơn, mất nhà và tình trạng sống cách ly gia tăng nguy cơ tự tử.
- Nhà thờ, gia đình hoặc sự hổ trợ cộng đồng giúp làm giảm bớt nguy cơ tự tử.
- Vài nhóm xã hội (groupes sociaux) có nguy cơ tự tử cao, đặc biệt là các tù nhân .
13/ CÓ QUAN HỆ GIỮA BỆNH TẬT VÀ NGUY CƠ TỰ TỬ KHÔNG?
- Có! Các bệnh nhân với một bệnh nội khoa, đặc biệt là những bệnh gây đau đớn và nan y có thể tìm một lối thoát qua tự tử.
- Các bệnh không phải tâm thần thông thường nhất liên kết với tự tử là các bệnh mãn tính, như ung thư, bệnh phổi tắc mãn tính (chronic obstructive pulmonary disease) và đau đớn mãn tính. Các bệnh nhân với thẩm tách thận ( renal dialysis) có tỷ lệ tự tử gấp 400 lần so với dân thường và bệnh nhân bị sida có thể có tỷ lệ tự tử cao hơn so với tỷ lệ trung bình.
14/ NẾU BỆNH NHÂN TRƯỚC ĐÂY ĐÃ CÓ TOAN TÍNH TỰ TỬ THÌ ĐIỀU NÀY CÓ LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ TỰ TỬ SAU NÀY KHÔNG?
- Có ! Trừ phi tất cả những toan tính này có mức độ bé nhỏ và được xem như là những hành động bị lôi kéo (manipulative).
- đặc biệt là nếu như mọi toan tính tự tử về sau leo thang về mức độ nghiêm trọng.
- 1/3 trong số những người sốt sống sót sau tự tử, trước đó đã có một lần toan tính tự tử.
- Càng có nhiều toan tính tự tử trong tiền sử của bệnh nhân thì các nguy cơ thành công của toan tính tự tử lần sắp tới càng cao. Những tiền sử tự tử thành công trong gia đình hoặc nơi những người thân thuộc có thể làm dễ việc chuyển qua hành động tự tử do hiện tượng bắt chước.
15/ MỐI QUAN HỆ GIỮA BỆNH SỬ GIA ĐÌNH VÀ NGUY CƠ TỰ TỬ?
- các bệnh nhân có bệnh sử gia đình về tự tử, nghiện rượu, bệnh trầm uất, sẽ có nguy cơ tự tử cao hơn là những bệnh nhân không có một tiền sử gia đình như thế.
- một bệnh sử tự tử trong gia đình thuộc thế hệ thứ nhất (cha mẹ, anh chị em ruột) cần phải được quan tâm đặc biệt
16/ NGUY CƠ TOAN TÍNH TỰ TỬ VÀ KHẢ NĂNG CỨU THOÁT ẢNH HƯỞNG LÊN ĐÁNH GIÁ TỰ TỬ NHƯ THỂ NÀO?
- Nói chung một toan tính tự tử có mức độ nghiêm trọng và đầy rủi ro được xem là dấu hiệu báo trước các toan tính tự tử tiếp theo có khả năng xảy ra, hơn là một toan tính nhỏ.
- Một toan tính tự tử được thực hiện mà có thể cứu thoát được, thường liên kết với nguy cơ tự tử thành công lần sau thấp hơn.
17/ MỐI LỢI THỨ CẤP (SECONDARY GAIN) LÀ GÌ KHI TOAN TÍNH TỰ TỬ?
- Đôi khi, một toan tính tự tử nhằm vào một mục đích nào đó hơn là tìm cái chết. Mục tiêu này được gọi là mối lợi thứ cấp (secondary gain : bénéfice secondaire), có thể là để tìm sự chú ý của bố mẹ, bạn bè hoặc của người yêu.
- Nếu toan tính tự tử mà mục tiêu duy nhất là cái chết, thì khả năng tự tử thành công về sau là lớn.
- Với sự gia tăng tỷ lê tự tử thành công trong giới trẻ, người y sĩ phải cẩn trọng khi cho rằng những toan tính tự tử là do mong muốn được chú ý hoặc nhằm vào mối lợi thứ cấp. Cần thực hiện một đánh giá đầy đủ trước khi đi đến kết luận như vậy.
18/ Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐÁNH GIÁ THÁI ĐỘ VÀ CẢM XÚC CỦA BỆNH NHÂN TỰ TỬ?
- Bệnh nhân có vẻ bị kiệt sức, không nơi nương tựa, vô vọng, hoặc đơn độc thường có nguy cơ tự tử cao.
- Bệnh nhân toan tính tự tử vì tức giận, hoặc trong cố gắng tìm cách phục thù thường có tiên lượng tốt hơn so với bệnh nhân trầm tĩnh, buồn rầu, mệt mỏi hoặc vô cảm.
19/ TẠI SAO TÌM HIỂU VỀ MỘT KẾ HOẠCH TỰ TỬ LÀ QUAN TRỌNG?
- Đừng bao giờ do dự hỏi bệnh nhân về bất cứ kế hoạch tự tử nào.
- Bệnh nhân tiếp tục bày tỏ ý định tự tử sau một lần toan tính thường có nguy cơ sẽ thực hiện một toan tính tiếp theo. Nguy cơ cao nhất nếu kế hoạch tỏ ra chi tiết, hung bạo và khả dĩ thực hiện.
- một kế hoạch được xác định và có mạch lạc , có dự kiến các phương tiện tự tử (uống thuốc, trầm mình, treo cổ..), có chuẩn bị (mua súng, viết di chúc) là những chỉ dấu nói lên quyết tâm của người tự tử.
20/ TRƯỚC MỘT BỆNH NHÂN BIỂU LỘ Ý ĐỊNH TỰ TỬ, THÁI ĐỘ PHẢI NHƯ THỂ NÀO?
NHỮNG QUAN NIỆM SAI LẦM :
- sai lầm khi nghĩ rằng nói về tự tử với một bệnh nhân có thể khiến gây nên hành động tự tử trên bệnh nhân này.
- sai lầm khi nghĩ rằng các bệnh nhân nói sẽ tự tử hiếm khi sẽ chuyển qua thành hành động
- không bao giờ được xem thường những lời nói tự tử.
- sự bày tỏ những ý định tự tử (idées suicidaires) tự nó không đủ để đánh giá nguy cơ.
- điều quan trọng cần nhớ là không có sự tương quan giữa sự bày tỏ ý muốn chết với thực tế thực hiện ý muốn này.
- xử trí một bệnh nhân có ý nghĩ tự tử luôn luôn là một việc khó khăn. Người thầy thuốc có cảm giác nếu đặt câu hỏi với bệnh nhân, điều này có thể khiến bệnh nhân chuyển ý nghĩ thành hành động tự tử. Trái lại, trước các dấu chứng trầm uất và/hoặc lo âu, người thầy thuốc phải làm dễ sự biểu lộ các ý nghĩ tự tử bằng cách hỏi bệnh nhân có nghĩ đến hoặc đã nghĩ đến tự tử hay không, có bị xâm chiếm bởi những ý nghĩ đen tối hay không. Phương cách này nói chung có tác dụng làm dễ, làm cởi mở những điều tâm sự và có thể tạo tiền đề cho điều trị. - bệnh nhân trầm cảm u sầu (dépression mélancolique) thường che dấu ý định tự tử (détermination muette), trái lại bệnh nhân bị hystérie lại biểu lộ thái quá ý định này (chantage au suicide).
- bệnh nhân hystérique có thể chuyển ý định tự tử qua hành động dễ dàng trong khi bệnh nhân bị trầm cảm u sầu bị ngăn cản hành động do sự ức chế tâm thần vận động (inhibition psychomotrice).
21/ NÓI CHUNG NHỮNG BỆNH NHÂN NÀO CẦN PHẢI NHẬP VIỆN?
- CHỈ ĐỊNH TUYỆT ĐỐI: nhập viện sau toan tính tự tử thường là những trường hợp sau đây: bệnh loạn tâm thần (psychosis), một toan tính tự tử có kế hoạch trước, hung bạo và suýt nữa gây thiệt mạng, ý nghĩ tự tử liên tục với những kế hoạch định rõ cho một toan tính khác.
- CHỈ ĐỊNH TƯƠNG ĐỐI: tuổi lớn hơn 45, tỷ xuất nguy cơ/khả năng cứu thoát cao, bệnh tâm thần nặng, nghiện rượu, nghiện thuốc, sống đơn độc với nương tựa xã hội kém, và không nơi nương tựa, vô vọng hoặc suy kiệt.
22/ CÁC CHỈ ĐỊNH NHẬP VIỆN CỦA MỘT BỆNH NHÂN CÓ Ý ĐỊNH TỰ TỬ ĐẾN PHÒNG CẤP CỨU?
- nguy cơ tự tử sắp xảy ra tức thời.
- tình hình bất an nghiêm trọng nếu để bệnh nhân xuất viện.
- Quyết định nhập viện một bệnh nhân có ý định tự tử phải xét đến những yếu tố sau đây:
- có hay không một rối loạn bệnh học tâm thần nghiêm trọng.
- các tiền sử cá nhân hoặc gia đình về toan tính tu tử và/hoặc tự tử.
- việc sử dụng có tính cách bệnh lý rượu và/hoặc các chất dưỡng thần (psychotropes).
- tuổi của bệnh nhân (tỷ lệ tử vong do tự tử gia tăng với tuổi).
- quyết tâm của bệnh nhân.
- sự hiện diện của yếu to làm dễ.
- môi trường của bệnh nhân.
23/ NẾU NHẬP VIỆN LÀ CẦN THIẾT, CẦN PHẢI LÀM GÌ NẾU BỆNH NHÂN TỪ CHỐI?
- Lập giấy chứng nhận nhập viện theo yêu cầu của một đệ tam nhân (certificat d'hospitalisation sur demande d'un tiers) (HDT).
24/ CÁC CHỈ ĐỊNH NHẬP VIỆN THEO YÊU CẦU CỦA MỘT ĐỆ TAM NHÂN?
- mọi bệnh nhân mà những rối loạn làm cho sự ưng thuận (consentement) không thể thực hiện được và tình trạng đòi hỏi điều trị tức thời cùng với theo dõi thường xuyên trong môi trường bệnh viện.
25/ AI CÓ THỂ YÊU CẦU NHẬP VIỆN THEO YÊU CẦU CỦA MỘT ĐỆ TAM NHÂN?
- một người thứ ba hoặc 2 BS (không nhất thiết phải là một chuyên khoa tâm thần) .
- người thứ ba có thể là một thành viên của gia đình, một người bạn, một người khả dĩ hành động vì lợi ích của bệnh nhân..
26/ CÁC CHỈ ĐỊNH THEO DÕI NGOẠI TRÚ MỘT BỆNH NHÂN CÓ Ý ĐỊNH TỰ TỬ ĐẾN PHÒNG CẤP CỨU:
- những người xung quanh thương mến, thông cảm và luôn luôn hiện diện.
- bầu không khí bớt bi thảm hóa (ambiance dédramatisée) nhưng ý thức được vấn đề.
- tiếp xúc tốt và đáp ứng dương tính với tâm lý trị liệu pháp (soutien psychothérapeute).
27/ CÓ CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ AN THẦN Ở PHÒNG CẤP CỨU KHÔNG?
- nguy cơ chuyển qua hành động tự
- cơn lo sợ mạnh (crise d’angoisse intense).
28/ CÓ CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ CHỐNG TRÂM CẢM Ở PHÒNG CẤP CỨU KHÔNG?
- Không có chỉ định.
29/ CÓ ĐIỀU TRỊ LÂU DÀI ĐỂ LÀM GIẢM NGUY CƠ TỰ TỬ KHÔNG?
- Lithium trong bệnh loạn tâm thần thao cuồng-trầm cảm (manic-depressive psychosis).
- điều trị cho phép giảm tỷ lệ nguy cơ tự tử xuống tỷ lệ gần với nguy cơ xảy ra ở dân thường.

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(11/9/2007)


Y Dược Ngày Nay: Bài Y Khoa Thực Hành này có tính chất Chuyên Môn, đặc biệt dành cho những chuyên viên y tế.

Tự Tử
Bs Thái Minh Trung
Bài viết của BS Thịnh rất đầy đủ. Trung xin bổ túc thêm vài ý kiến để trả lời những câu hỏi của BS Ngô. Trung giới hạn thảo luận bịnh trầm cảm mà thôi.
Theo article này thì 45% bịnh nhân đã gặp BS gia đình một tháng trước khi họ tự tử và đến 77% đã gặp BS gia đình trong vòng một năm trước khi họ tự tử. Chính vì thế mà suicide screening rất quan trọng. Những người trung niên đang bị khủng hoảng tinh thần hay người cao niên bị bịnh đau đớn kinh niên là những người cần được quan sát kỹ lưỡng vì họ ở trong nhóm có nguy cơ tự tử cao. Sự tồn tại của sự hổ trợ gia đình hay xã hội (tham gia các đoàn thể xã hội hay tôn giáo) là một yếu tố quan trọng. Nguy cơ tự tử rất cao ở những người sống cô lập. Nếu họ có tiền sử bịnh trầm cảm hay đã có hành động tự tử trước đó thì nguy cơ thực hiện tự tử rất cao.
Khi bịnh nhân có hành động tự tử (suicide attempt) thì nhất thiết gia đình phải đưa người đó đến phòng cấp cứu để được chuyên viên tâm lý phỏng vấn và cho nhập viện để quan sát. Cái nguy cơ của người trung niên và cao niên thuộc phái nam thành công tự tử (suicide completion) cao hơn là nữ. Nếu người đó không tự nguyện nhập viện thì sẽ được BS tâm thần bắt buộc nhập viện để quan sát trong 3 ngày. Sau đó nếu BS muốn bịnh nhân ở thêm mà bịnh nhân không muốn thì bịnh nhân có thể trình bày hoàn cảnh mình trước quan tòa và tòa án sẽ phán xét cho xuất viện hay không.
Có những trường hợp BN không muốn ở trong bịnh viện tâm thần và nói dối BS hay quan tòa là mình không còn ý định tự tử và được cho xuất viện. Khi về nhà, đương đầu lại với những hoàn cảnh khó khăn thì BN tự tử lần thứ nhì và thành công lần này. Nói một cách khác khi BN thật sự muốn tự tử thì BS khó có thể giúp được.
Những trường hợp BS giúp được là BN dùng ý định tự tử như một lời cầu cứu để được giúp đỡ.
Cách đáp ứng và trị liệu:
Chẩn bịnh, BS gia đình cần phân biệt bịnh trầm cảm (unipolar depression) với trầm cảm do bịnh tình cảm lưởng cực (Bipolar depression). Người bị bipolar cho uống thuốc trầm cảm sẽ có nhiều nguy cơ tự tử.
Tư vấn và giới thiệu BN với các cơ quan xã hội để được giúp đở về tiền bịnh, housing...
Trị bằng thuốc men như thuốc an thần và loại thuốc SSRI cho người bị suy sụp tinh thần.
Nhập viện và điều trị bao lâu? Ðây là câu hỏi rất phức tạp vì lệ thuộc vào nhiều yếu tố như bảo hiểm của BN có chịu trả tiền nhập viện lâu hay không, lời khai bịnh, sự thành thật của BN, tiền sử (past history) và sự định bịnh của BS.
Tỷ lệ tự tử: Nghe nói các nước Bắc Âu và nước Pháp có tỷ lệ tự tử cao hơn các nước khác.
Ðề phòng tự tử: Ta cần giáo dục quần chúng về bịnh tâm thần để cho những triệu chứng của bịnh tâm thần được chấp nhận. Có rất nhiều trường hợp BN sợ BS gán cho mình là "bị điên" nên không dám khai bịnh. Gia đình khi có người "không bình thường" thì rất hổ thẹn, đôi khi không dẫn BN đi theo dõi BS gia đình khi BN rời phòng cấp cứu.
Thân mến.
Bs Thái Minh Trung

Copyright, 2007. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com

>>>back>>>

Y Dược Khoa Thực Hành