 |
Cấp
Cứu Nội Khoa Số 6 (bác
sĩ Nguyễn Văn Thịnh)
BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG
MẤT BÙ (DIABETE DECOMPENSE)
JEAN-LOUIS VINCENT,
Chef du Service de soins intensifs Hopital Erasme,
Bruxelles
I/ ACIDO-CETOSE DIABETIQUE:
Điều trị gồm 2 phần : truyền tĩnh
mạch dịch với số lượng lớn và
tiêm truyền insuline.
1/ TRUYỀN DỊCH BẰNG ĐƯỜNG TĨNH
MẠCH:
- sự tăng bài niệu thẩm thấu (diurèse osmotique)
dẫn đến mất nước quan trọng mặc
dầu bệnh nhân rất khát nước.
- dung lượng máu bị mất (pertes volémiques) được
đánh giá bằng 10-15% trọng lượng cơ thể
và dung dịch muối sinh lý (solution salé physiologique) là
dịch truyền được lựa chọn
- trường hợp giảm dung lượng máu
(hypovolémie) quan trọng, có thể truyền colloides lúc
khởi đầu để tái lập nhanh chóng dung
lượng máu (volémie) mà không gây phù quan trọng.
SƠ ĐỒ TRUYỀN DỊCH CƠ BẢN
Một Sơ đồ cơ bản quy định
truyền 4L dung dịch muối (0,9% NaCl) trong vòng 12 giờ
theo cách sau đây:
1L trong 1 giờ
1L trong 2 giờ
1L trong 3 giờ
1L trong 6 giờ
(dĩ nhiên là cần phải thích ứng tùy theo tình trạng
huyết động học của bệnh nhân)
- trường hợp
tăng natri-huyết ( hypernatrémie ) (Na > 145 mEq/L),
tiêm truyền dung dịch muối có thể làm nặng
thêm tình trạng tăng natri-huyết, còn dung dịch
glucose thì không nên sử dụng: trong trường hợp
này có thể sử dụng dung dịch muối 0,45%
(cho chảy đồng thời một dung dịch muối
sinh lý và một dung dịch nước vô trùng (solution
d'eau stérile)
- khi glucose-huyết giảm
xuống dưới 250 mg/dl, truyền glucose 5% (vừa
tiếp tục tiêm truyền insuline).
- Bổ sung KCL: Thường
kali huyết (hypokaliémie) bị giảm; nguyên nhân là do
tăng bài niệu thẩm thấu (diurèse osmotique) gây
nên thất thoát một số lượng quan trọng
K bằng đường tiểu. Tuy nhiên vào giai đoạn
khởi đầu của bệnh, nồng độ
K trong máu có thể bình thường bởi vì sự
thiếu insuline, tăng tính thẩm thấu ( hyperosmolarité)
và sự nhiễm acid (acidose) gây nên sự di chuyển
K ra khỏi các tế bào. Sự tiêm truyền insuline
và sự điều chỉnh sự nhiễm acid sau
đó làm cho K vào trở lại các tế bào với số
lượng quan trọng. Vậy cần phải sớm
bổ sung K và theo dõi nồng độ kali huyết.
SƠ ĐỒ TRUYỀN KCL
- Có thể bắt đầu
truyền 20mEq/L trong khi chờ đợi những kết
quả xét nghiệm đầu tiên.
- > 6 mEq/L
: không cần bổ sung
5-6 mEq/L
: 10 mEq/h
4-5 mEq/L
: 20 mEq/h
3-4 mEq/L
: 30 mEq/h
< 3 mEq/L
: 40 mEq/h
- Hypophosphatémie thường
hiện diện vì vậy thường cần tiêm truyền
phosphate de potassium. Giảm phosphore (hypophosphorémie) thường
xảy ra trong những tình trạng này và chủ yếu
là do mất phosphore trong nước tiểu. Tiêm truyền
phosphate de K là cần thiết để tránh hypophosphorémie
nghiêm trọng : 40-60 mEq phosphate de K sau khi đã điều
trị ổn định giai đoạn sơ khởi.
- Không có bằng cớ về
tính hiệu quả của bicarbonate. Chứng acid huyết
(acidémie) sẽ được điều chỉnh bởi
truyền dịch và insuline.Tuy nhiên có người cho
bicarbonate trong trường hợp pH rất thấp
(<7,1) ở giai đoạn đầu.
2/ INSULINOTHERAPIE:
- các liều lượng insuline không nhất thiết
phải rất quan trọng nhưng chủ yếu phải
được duy trì trong thời gian.
- có thể cho insuline dưới dạng tiêm truyền
liên tục (perfusion continue).
- một phương cách tiện lợi là pha chế
thành một dung dịch rồi truyền bằng bơm
tiêm điện (seringue électrique).
- trộn 50 U Actrapid trong 50ml dụng dịch để
có một dung dịch 1U/ml.
- bắt đầu truyền dụng dịch với
lưu lượng bằng 1/100 của glycémie. Ví dụ nếu
glycémie = 550mg/dl , bắt đầu với lưu lượng
5,5 U/h.
- khi glycémie hạ xuống gần với trị số
bình thường, ta có thể áp dụng những trị
số theo bảng sau đây :
THÍCH NGHI POMPE A L'INSULINE (1U/ml) VỚI
GLYCEMIE CỦA BỆNH NHÂN
GLYCEMIE
THÁI ĐỘ ĐIỀU TRỊ
<80mg/dl -
ngưng truyền
- truyền glucose hypertonique
80-120mg/dl
- giảm truyền 0,3U/L
120-180mg/dl
- không thay đổi
180-240mg/dl
- gia tăng truyền 0,3 U/L
> 250mg/dl
- gia tăng truyền 0,5 U/L
II/ COMA HYPEROSMOLAIRE
- đây là hợp chứng
tăng glucose-huyết (hyperglycémie) nghiêm trọng với
tăng trương lực (hypertonicité) nhưng không
có cétose, xảy ra ở người trưởng thành
có bệnh đái đường thể nhẹ hoặc
có khi không có đái đường. Sở đĩ
không có cétose là vì ở bệnh nhân này insuline được
tiết đầy đủ. Glucose-huyết nói chung
tăng cao, quan trọng hơn so với acido-cétose (>
900mg/dl thay vì 600 -700mg/dl)
- thường có thể
tìm thấy yếu tố phát khởi như nhiễm
trùng, sử dụng corticostéroides hay thuốc lợi
tiểu
- mất nước thường
quan trọng và có thể liên kết với một urée
huyết (urémie) nguyên nhân ngoài thận
1/ LÂM SÀNG:
- đa số bệnh nhân thể hiện biến đổi
trạng thái tâm thần nhưng không nhất thiết
bị hôn mê.
- các dấu chứng giảm dung lượng máu (hypovolémie)
và đôi khi sốc do giảm dung lượng máu (choc
hypovolémique), nhưng những tình trạng này được
điều chỉnh dễ dàng.
2/ ĐIỀU TRỊ NATREMIE:
Do tác dụng thẩm thấu (effet osmotique), tăng glucose
máu (hyperglycémie) làm nước di chuyển từ khoang
trong tế bào ra khoang ngoài tế bào, điều này dẫn
đến sự hòa loãng sodium. Vậy cần điều
chỉnh natrémie tùy theo nồng độ đường
trong máu. Gia tăng glucose 100mg/dl trên nồng độ
glycémie bình thường 100mg/dl sẽ đưa đến
giảm 1,6mEq/L natrémie. Vậy một bệnh nhân có glycémie=800mg/dl
và một natrémie= 138mEq thì thật ra bệnh nhân này có
một natrémie được điều chỉnh (natrémie
corigée) là 149mEq/l.
MANUEL DE REANIMATION, SOINS INTENSIFS ET MEDECINE D'URGENCE
B.S NGUYỄN VĂN THỊNH
9/12/2006
Copyright, 2006. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |