 |
Nguyên
Nhân Cái Chết Của Vua Quang Trung (Phần 1)
Bác sĩ Bùi Minh Đức
7/5/2008
Vua Quang Trung đã qua đời cách đây (2008) đúng 206 năm.
Vua mất nhằm ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý tức là vào ngày 16 tháng 9 năm
1792 dương lịch sau một thời gian bị “bạo bệnh”. Vua mất lúc mới 40 tuổi.
ĐẶT VẤN ĐỀ VỀ CÁI
CHẾT CỦA VUA QUANG TRUNG:
Các tài liệu lịch sử đều ghi là vua Quang Trung đã chết vì “bạo bệnh”
nhưng không có tài liệu nào nói rõ ra đó là bệnh gì. Riêng tác giả Hoa
Bằng thì cho rằng vua Quang Trung chết vì bệnh “huyết vựng”.
Vua Quang Trung đã được xem là một vị anh hùng dân tộc nên trong quá khứ
đã có nhiều người quan tâm đến cái chết đột ngột của vị anh hùng áo vải
đó. Cũng vì thế nên đã có nhiều người đặt ra nhiều giả thuyết khác nhau
về cái chết của vị Vua nầy. Tuy nhiên, từ trước đến nay vẫn chưa có một
khảo cứu nào căn cứ vào Y khoa hiện đại để phối hợp với các sự kiện đã
được ghi trong lịch sử để có thể cho chúng ta biết một cách chắc chắn
hơn về bệnh trạng cũng như về nguyên nhân tử vong của vua Quang Trung
vào hồi đó.
Và vì vậy, chúng tôi đã làm công việc đó.
Chúng tôi đã dựa trên các hiểu biết của nền Y học hiện đại và phối hợp
với các tài liệu lịch sử giá trị của ngành Sử Học Việt Nam còn lưu lại
đến ngày nay để suy diễn bệnh tình của vua Quang Trung trước giờ lâm chung.
Mục đích của chúng tôi là “Thử tái lập hồ sơ bệnh lý của vua Quang Trung
Nguyễn Huệ từ khi xẫy ra bạo bệnh cho đến ngày qua đời”. Chúng tôi hy
vọng bài khảo cứu của chúng tôi ngày hôm nay sẽ có thể đưa ra được lời
giải đáp cho hai câu hỏi chính yếu về “CÁI
CHẾT CỦA VUA QUANG TRUNG” mà mọi người chúng ta
hằng quan tâm là:
1/ Vua Quang trung đã bị bạo bệnh đột ngột trước lúc qua đời, vậy đó là
“CĂN BỆNH” gì?
2/ Vua Quang trung qua đời nhiều ngày sau “bạo bệnh”, vậy “NGUYÊN
NHÂN TỬ VONG” là gì?
THỬ TÁI LẬP HỒ SƠ BỆNH LÝ CỦA VUA
QUANG TRUNG TRƯỚC GIỜ LÂM CHUNG:
I/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Phương pháp làm việc của chúng tôi trong đề tài nghiên cứu căn bệnh của
vua Quang Trung là căn cứ vào những tư liệu có giá trị đích thực của Sử
Học Việt Nam, những tư liệu có đả động đến bệnh trạng của Vua Quang Trung
để suy nghiệm ra các triệu chứng khá “chắc chắn” của bệnh trạng của Nhà
Vua hồi đó. Sau đó, chúng tôi đối chiếu các triệu chứng “chắc chắn” đó
với một số các căn bệnh cũng có cùng những bệnh chứng đó trong Y Khoa
ngày nay để có thể phỏng đoán được “bệnh trạng” của Nhà Vua là gì. Rồi
từ “căn bệnh phỏng đoán” khá chính xác đó, chúng tôi lại sẽ quay ngược
lại để biết thêm những “triệu chứng có thể” đã xuất hiện trên người Vua
sau ngày bạo bệnh, căn cứ vào các hiểu biết của Y khoa tân tiến ngày nay.
Độ chính xác của “căn bệnh phỏng đoán” của Nhà Vua trên thực tế chắc chắn
sẽ không thể nào là 100% vì bao nhiêu ngày tháng đã trôi qua từ bấy đến
nay (đã trên 200 năm) nhưng chúng tôi tin rằng đó là “độ chính xác cao
nhất có thể đạt được và có thể tin cậy được” căn cứ vào các tư liệu hiện
hữu và các hiểu biết của Y khoa ngày nay.
Trong bài khảo cứu nầy chúng tôi cũng đã phải sử dụng đến các sơ đồ “Flow
Charts”, nói nôm na là sơ đồ của “cái nầy đưa đến cái kia” về triêụ chứng
và về căn bệnh. Chúng tôi cũng áp dụng lối lý luận bằng “phương pháp loại
trừ” của logic theo Y khoa ngày nay theo lối “không có cái nầy thì sẽ
không có cái kia”. Chúng tôi cũng đã sử dụng một số kết quả về thống kê
của các bệnh tật theo các khảo cứu của Y học ngày nay và chúng tôi cũng
sẽ luôn luôn dựa vào các kết quả thống kê cao nhất, khả dĩ nhất để lấy
quyết định.
Cũng trên đường đi tìm “bạo bệnh” của Vua Quang Trung, chúng tôi đã phải
tiếp cận với nhiều nguồn tư liệu cao cấp của các Chuyên Ngành trong Y
khoa ngày nay. Chúng tôi cũng đã có cơ hội tiếp xúc được với nhiều Chuyên
gia cao cấp, đi từ điạ hạt Nội Thần Kinh, Ngoại Thần Kinh qua Tai Mũi
Họng và Nội thương cho đến Tim học. Và cũng vì thế, chúng tôi đã có nhiều
cơ hội tiếp nhận được những kinh nghiệm lâm sàng trực tiếp từ các vị Chuyên
gia hàng đầu trong các ngành đó.
Nói tóm lại, chúng tôi sẽ lần lượt nêu lên những tư liệu Sử học mà chúng
tôi sử dụng và cùng lúc đưa ra những kết quả về triệu chứng bệnh lý mà
chúng tôi suy nghiệm được dựa vào những tư liệu đó. Chúng tôi cũng sẽ
thử “tái xây dựng” hồ sơ bệnh lý của Vua Quang Trung theo nguyên tắc “SOAP”
của các hồ sơ bệnh lý y khoa ngày nay: “S”
(Subjective) là các triệu chứng chủ quan tự cảm thấy của bệnh nhân (phần
Bệnh sử), “O” (Objective) là các triệu chứng
khách quan tìm thấy được trên người bệnh nhân (phần Triệu chứng), “A”
(Assessment) là kết luận về bệnh trạng đã được suy diễn ra (phần
Định Bệnh Phân Biệt “Differential Diagnosis” và phần Định Bệnh Lâm Sàng
“Clinical Diagnosis) và cuối cùng , “P” (Plan)
là những quyết định thử nghiệm (Laboratory Tests) và điều trị (Treatment
Plan) về căn bệnh đã được suy diễn ra đó.
2/ THỬ TÁI LẬP HỒ SƠ BỆNH LÝ CỦA VUA QUANG
TRUNG TRƯỚC GIỜ LÂM CHUNG:
HỒ SƠ BỆNH LÝ
TÊN VÀ HỌ: NGUYỄN HUỆ (VUA QUANG TRUNG)
TUỔI: 40
GIỚI TÍNH: NAM
NGHỀ NGHIỆP: Chỉ Huy Quân Đội. Tánh xông xáo, thích hoạt
động .
I/ BỆNH SỬ (HISTORY OF THE PRESENT
ILLNESS):
A/ TƯ LIỆU CHỨNG MINH: Trước hết
chúng tôi đưa ra vài tư liệu dính dáng đển khởi điểm của bạo bệnh của
Nhà Vua .
1/ Theo “Đại Nam Thực
Lục Chính Biên”, Tập II , Đệ Nhất Kỷ 1 (Tổ phiên dịch Viện Sử Học,
Đào Duy Anh hiệu đính, tr. 159- 160): “..Tây Sơn Ngyễn Văn Huệ chết. Nguyễn
Huệ ngồi chơi buổi chiều, bỗng mơ thấy một ông già tóc bạc từ trên không
xuống, mặc áo trắng, tay cầm gậy sắt, chỉ vào Huệ mà bảo rằng “Ông cha
mày sống trên đất vua, đời làm dân vua, mày sao dám vô lễ xâm phạm lăng
tẩm?”. Rồi đánh vào trán một cái. Huệ ngất ngã ra. Tả hữu đều sợ. Giờ
lâu mới tỉnh. Huệ đem việc đó nói với Trung thư Trần Văn Kỷ. Nhân đó,
ốm không dậy được, dặn con là Quang Toản (lại tên nữa là Trát) rằng “Ta
sẽ chết đây! Thần kinh Phú Xuân không phải của mày có được. Nghệ An là
đất của cha mẹ ta (Tổ tiên Huệ là người huyện Hưng Nguyên, khi Thái Tông
Hiếu Triết hoàng đế tiến lấy được bảy huyện Nghệ An, dời dân vào Qui nhơn),
đất ấy là nơi hiểm yếu có thể trông cậy được. Ta đắp thành dày để làm
kế Tấn Dương ngày khác cho mày. Sau khi ta chết, mày nên về đó. Nếu có
biến cố còn có thể giữ được. Rồi Huệ chết” .
2/ Theo “Đại Nam Chính
Biên Liệt truyện”, phần “Ngụy Tây Liệt truyện”: “Một hôm
về chiều, Quang Trung đang ngồi bỗng xây xẩm tối tăm, kế thấy một ông
già đầu bạc mặc áo trắng từ trên trời xuống, tay cầm gậy sắt mắng rằng
“Ông cha ngươi sống ở đất các chúa, đời đời làm dân của chúa, ngươi sao
dám phạm đến lăng tẩm?” Rồi lấy gậy đánh vào trán, bất tỉnh nhân sự lâu
lắm . Lúc tỉnh dậy, nhà vua đem chuyện ấy nói với quan Trung thư Trần
Văn Kỷ. Từ đó bệnh chuyển nặng, mời quan Trấn thủ Nghệ An là Trần Quang
Diệu về bàn bạc để dời đô ra đó. Thương nghị chưa xong thì Thế tổ ta (tức
vua Gia Long) đã lấy lại được Gia Định, chiếm Bình Thuận, Bình Khang,
Diên Khánh, thanh thế chấn động. Quang Trung nghe được lo buồn, bệnh ngày
càng kịch liệt”.
B/ BỆNH SỬ QUA CÁC TƯ LIỆU ĐÃ DẪN:
Qua hai tài liệu trên, chúng ta có thể suy diễn được diễn tiến của bệnh
trạng lúc khởi đầu như sau: “Bệnh nhân là một người nam, mới 40 tuổi.
Bệnh nhân đang ngồi chơi buổi chiều, không vận dụng sức lực hay làm việc
gì nặng nhọc, bỗng cảm thấy đầu đau như có ai cầm gậy sắt đánh vào trước
trán và té xuống liền, hôn mê bất tỉnh. Sự việc xẩy ra rất đột ngột. Giờ
lâu bệnh nhân mới tỉnh lại”.
II/ TRIỆU CHỨNG CĂN BỆNH (SIGNS AND SYMPTOMS):
Xét theo bệnh sử, chúng ta có thể ngược dòng thời gian để suy
nghiệm ra các triệu chứng của căn bệnh ban đầu của Vua Quang Trung. Chúng
tôi đã có thể ghi nhận bảy yếu tố định bệnh quan trọng trong giai đoạn
khởi đầu bệnh trạng của bệnh nhân là:
-1/ “BỆNH NHÂN CÒN TRẺ”, chỉ mới 40 tuổi.
-2/ “ĐAU ĐẦU DỮ DỘI, ĐỘT NGỘT” (Headache Severe,
Sudden Onset)
-3/ “HÔN MÊ NGẤT XỈU THÌNH LÌNH” (Sudden Loss of
Consciousness, gọi tắt là L.O.C.).
- 4/ “KHÔNG VẬN ĐỘNG SỨC LỰC” khi xẩy ra biến cố
(No Physical Exertion).
- 5/ “KHÔNG BỊ TỔN THƯƠNG TRÊN ĐẦU”, không bị va
đập trên đầu trước đó (No Previous Head Trauma History).
- 6/ “BỆNH NHÂN TỈNH LẠI: Bệnh nhân bị té xuống
hôn mê bất tỉnh, “giờ lâu mới tỉnh” (Recovering from Consciousness after
an Interval).
- 7/ “BỆNH NHÂN KHÔNG BỊ HÔN MÊ DÀI NGÀY” (No Coma
of long duration).
III/ CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT (DIFFERENTIAL DIAGNOSIS):
Dựa trên các yếu tố đó, chúng ta có thể suy diễn ra các điều
khác để tìm bệnh. Chúng ta lấy triệu chứng “Bất Tỉnh” (Loss of Consciousness)
là triệu chứng quan trọng nhất của căn bệnh để làm điểm khởi đầu của lý
luận định bệnh của chúng ta.
Trong từ ngữ Y khoa, “Bất Tỉnh Mê Man” được gọi bằng từ ngữ chung là “Loss
of Consciousness”, gọi tắt là “L.O.C.” Có khi người ta còn gọi là “Apoplexy”
và “Apoplexy” là từ ngữ thường đi đôi với căn bệnh Xuất Huyết Não. Nếu
bất tỉnh nhẹ, tỉnh lại ngay liền, thì gọi là “Syncope”, hôn mê nặng thì
gọi là “Coma”.
Thông thường, khi bệnh sử có ghi “LOC” đột ngột
mà trước đó không có dấu hiệu tổn thương nào trên Não Sọ thì Y khoa ngày
nay thường nghĩ ngay đến “NGUYÊN NHÂN NÃO BỘ” và
nhất là nghĩ ngay đến “TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO” (Cerebro-Vascular
Accident, gọi tắt là CVA) còn được gọi là “BỆNH ĐỘT QUỴ”
(Stroke). Hàng năm tại Hoa Kỳ có 730.000 trường hợp mới về “Tai Biến Mạch
Máu Não”.
Một LOC đột ngột thường do các nguyên nhân về Não Bộ như sau:
- 5% là do U Bướu (Tumor) trên Não với các triệu chứng thần kinh suy sụp
CHẬM RÃI (Progressive Neurologic Deficit) trong
68% các cas, và cũng có yếu liệt về thần kinh vận động (Motor Weakness)
trong 45% các cas và có Nhức Đầu (Headache) trong 54% các cas, Động Kinh
(26% các cas).
- 95% là do các MẠCH MÁU TRÊN NÃO bị nghẽn hoặc
bị vỡ gây ra xuất huyết, chia ra như sau:
- 80% là do NGHẼN ĐỘNG MẠCH (Ischemic Stroke, Arterial
Occlusion): vì Máu Đông Tại Chỗ (Thrombotic Stroke) trong 50% các cas
và do Cục Máu (Embolic Stroke) trong 30% các cas. Phân tách thêm, người
ta thấy có 41% các cas Nghẽn Mạch không biết lý do, 21% các cas ở các
động mạch nhỏ, 11% các cas ở các động mạch lớn và 16% do Cục Máu từ Tim
đến (Cardiogenic Embolie) như trong bệnh “Nhồi Máu Cơ Tim” (M.I. Myocardial
Infarction) hay trong “Chứng Hẹp Lỗ Van Hai Lá” (Mitral Stenosis) hay
trong “Chứng Loạn Nhịp” (Arrythmia).
- 20% là do XUẤT HUYẾT TRONG NÃO:
- 14% là do “Xuất Huyết trong Não Bộ” (IntraCerebral Hemorrhage, viết
tắt là ICH).
- 6% là do Xuất Huyết Dưới Màn Nhện (Sub-Arachnoid Hemorrhage, viết tắt
là SAH).
-A/ NGHẼN ĐỘNG MẠCH (Ischemia Stroke) thường bị “HÔN
MÊ SÂU ĐẬM” và thường xẩy ra cho người LỚN TUỔI,
trên 50 tuổi . Triệu chứng khởi đầu cũng có thể thình lình nhưng “KHÔNG
CÓ ĐAU ĐẦU”, không bị sốt. Bị yếu dần về thần kinh bắt đầu từ tay
rồi lan ra các vùng khác, TĂNG LẦN từ từ từng bước
một, từ vài giờ cho đến vài ngày (24 giờ-72 giờ) và thường về một phía.
Tay chân có thể bị yếu dần và bị Liệt Tay Liệt Chân ở phía đối diện (Controlateral
Hemiplegia) và cả tê tay tê chân. Thường là do “Nghẹt Đông Mạch Não Giữa
(Middle Cerebral Artery).
-B/ XUẤT HUYẾT TRONG NÃO BỘ (Intracerebral Hemorrhage
= ICH): 14% các cas bị HÔN MÊ BẤT TỈNH (LOC) và
thường được gọi là “Apoplexy” mà không có tổn thương do Va Đập nào trước
đó. Bệnh nầy thường do “BỂ ĐỘNG MẠCH”
trong khối chính của Não tạo thành “Cục Máu” còn gọi là “Khối tụ máu”
(Hematoma) đè ép lên trên Não Bộ và gây nên các triệu chứng về Thần kinh
Não bộ. Bệnh nầy thường xẫy ra ở người CAO TUỔI,
phần lớn là đàn ông trên 55 tuổi và phần lớn do CAO HUYẾT
ÁP (Hypertension). Càng lớn tuổi càng dễ bị bệnh nầy. Có thể do
sự “Vận động Sức Lực Quá Trớn” (Onset during Activity or Exertion) như
khi đi đại tiện bị bón hay khi đang chơi thể thao như Tennis chẳng hạn.
Bệnh nhân thường “BẤT TỈNH HOÀN TOÀN” (Coma). Triệu
chứng Thần Kinh Hỗn Loạn trong “Xuât Huyết Não” thường xẩy ra TỐI
ĐA NGAY LẬP TỨC (Maximal at Onset) chứ không diễn tiến từ từ như
trong bệnh “Nghẽn Mạch Máu Não”. Nếu tỉnh dậy cũng sẽ có Đau Đầu, Ói Mửa,
Chóng Mặt, Bị Liệt chân tay và Suy sụp thần kinh từ từ (Neuro Deficit
Progressive) và có thể bị Cấm Khẩu không nói được, bị bệnh Liệt Mặt (liệt
Dây thần kinh số 7), v...v...
-C/ XUẤT HUYẾT DƯỚI MÀNG NHỆN (Subarachnoid Hemorrhage
= SAH). Đa số các “Xuất Huyết dưới màng nhện” (SAH)
là do chấn thương trên Đầu. Số các cas “SAH” còn lại là do chứng “Tự Vỡ
Mạch” (Spontaneous SAH) mà có. 80% các cas nầy là
do Vỡ Mạch Phình (Aneurysm) và 5% là do Vỡ Mạch Máu Dị Dạng Bẩm Sinh (Congenital
Arteriovenous Malformation). Bệnh Xuất Huyết dưới Màng Nhện do “Tự Vỡ
Mạch” thường xẩy ra ở “NGƯỜI TRẺ KHOẢNG 40 TUỔI”
(20% các cas từ 15-45 tuổi) và xẩy ra “BẤT THÌNH LÌNH”
(Sudden Onset) (30% các cas lúc đang ngủ) với các triệu chứng sau: 1/
“ĐAU ĐẦU ĐỘT NGỘT DỮ DỘI” (Severe Headache) (30% bị Đau Đầu về phía mạch
máu bị vỡ), 2/ “BẤT TỈNH” ngay sau khi đau đầu đột ngột dữ dội . Bệnh
nhân có thể tỉnh trở lại 3/ ÓI MỬA (Nausea and Vomiting), 4/ CHÓNG MẶT
(Dizziness), CHÓNG MẶT QUAY CUỒNG (Vertigo). 5/ CỔ CỨNG (Nuchal Rigidity
hay Neck Stiffness) 6/ TÊ NỬA NGƯỜI (Hemiparesis) 7/ LIỆT NỬA NGƯỜI, còn
gọi là “Bán Thân Bất Toại” (Hemiplegia). Ngoài ra cũng có thể còn có:
8/ LIỆT NỬA MẶT (Facial Palsy) do liệt dây thần kinh Não số 7 (Facial
Nerve) một bên 9/ Bệnh SONG THỊ (Diplopia) do liệt dây thần kinh Não số
3 và “CHỨNG SỢ ÁNH SÁNG” (Photophobia) 10/ Hỗn Loạn về chúc năng “NUỐT”
do hỗn loạn của các dây thần kinh Não số 9 và số 10.
Thống kê ngày nay còn cho biết thêm các chi tiết sau: 50% các cas về “Xuất
Huyết Dưới Màng Nhện” đã có triệu chứng báo hiệu (Warning Symptoms) ,
thường là từ 6 đến 20 ngày trước đó. Tra cứu các tư liệu Sử học còn lưu
lại, chúng tôi cũng không thể xác định được trước đó Vua Quang Trung có
cảm thấy triệu chứng gì báo trước của bạo bệnh hay không, ví dụ như Đau
Đầu, Đau Mặt, Chóng Mặt hay Tê tay Tê chân, Yếu tay Yếu chân hay Mắt Mờ
chẳng hạn.
IV/ CHẨN ĐOÁN CĂN BỆNH VUA QUANG TRUNG (CLINICAL DIAGNOSIS):
Và như vậy , xuyên qua triệu chứng của
các bệnh Xuất Huyết Mạch Máu Não trong trường hợp bị “BẤT TỈNH ĐỘT NGỘT,
KHÔNG CÓ CHẤN THƯƠNG” và so sánh với các triệu chứng khởi đầu của căn
bệnh của Vua Quang Trung qua các tư liệu đã nêu ra, chúng ta thấy căn
bệnh lúc ban đầu của Vua Quang Trung trong quá khứ, rất có thể là:
“BỆNH XUẤT HUYẾT NÃO DƯỚI MÀNG NHỆN”
(Subarachnoid Hemorrhage)
DO CHỨNG “TỰ VỠ MẠCH PHÌNH” (Spontaneous
Aneurysm Rupture)
V/ DIỄN TIẾN BỆNH TRẠNG (PROGRESS NOTES):
Căn bệnh “Xuất Huyết Não Dưới Màng Nhện” nầy của Nhà Vua, ngoài
những triệu chứng chính ban đầu mà ta đã suy diễn ra được qua những tư
liệu đã dẫn chứng, liệu còn có các triệu chứng phụ nào trên người Vua
phù hợp với sự tiến triển của bệnh lý theo y khoa ngày nay hay không?
Chúng ta thử đi tìm thêm các triệu chứng đó và cũng sẽ dùng các tư liệu
sử học để chứng minh bằng cách theo dõi diễn tiến của căn bệnh ban đầu
cho đến ngày Vua qua đời.
A/ Bài “Ai Tư Vãn” của Ngọc Hân Công Chúa làm vào lúc Nhà Vua
qua đời đã cho ta thêm đôi chút ánh sáng về bệnh tật của Vua trong thời
gian nầy:
“TỪ NẮNG HẠ MÙA THU TRÁI TIẾT,
XÓT MÌNH RỒNG MỎI MỆT CHẲNG YÊN
Xiết bao kinh sợ lo phiền,
Miếu thần đã thỉnh, thuốc tiên lại cầu.
Khắp mọi chốn đâu đâu tìm rước,
Phương pháp nào đổi được cùng chăng?
Qua bài “Ai Tư Vãn” nầy , ta có thể rút ra thêm
được các kết luận sau đây liên quan đến bệnh trạng của Nhà Vua :
1/“Từ nắng hạ mùa thu trái tiết” : Vua đau từ mùa
hạ đến mùa thu mới mất. Khoảng thời gian có lẽ là
TRÊN HAI THÁNG từ
lúc phát bệnh đến giờ lâm chung.
2/“Xót mình rồng mỏi mệt chẳng yên”: Vua day trở trên giường bệnh. Y Khoa
ngày nay gọi là “CHỨNG BỒN CHỒN” (Restless), không
thể nằm yên mà phải nhúc nhích qua lại. Đó là chưa nói đến những dư chứng
thông thường của bệnh “Xuất Huyết Não” với những cơn ĐỘNG
KINH (Seizures), CO GIẬT (Convulsions) cũng
như những CỬ ĐỘNG RUNG CƠ (Tremblements), không
kiểm soát được của tay chân. Tất cả đều khiến cho “Mình Rồng mỏi mệt chẳng
yên” tức là di chứng “Bồn chồn” (RESTLESS) do suy
yếu thần kinh của căn bệnh “Xuất Huyết Não Dưới Màng Nhện”
Câu hỏi được nêu tiếp theo là những “dư chứng” nào khác còn hiện diện
trên cơ thể con người của Nhà Vua sau cơn bạo bệnh?
B/ “Đại Nam Thực Lục Chính Biên” cho ta biết qua tình hình chung
sau khi Vua ngã bệnh : “…Huệ ngất ngã ra. Tả hữu đều sợ. Giờ lâu mới tỉnh.
Huệ đem việc đó nói với trung thư Trần Văn Kỷ. NHÂN ĐÓ
ỐM KHÔNG DẬY ĐƯỢC, dặn con là Quang Toản …” .
Qua câu nầy của “Đại Nam Thực Lục Chính biên” thì sau khi bị cơn bệnh
thình lình, Vua đã “KHÔNG THỂ NÀO ĐỨNG DẬY ĐƯỢC”.
Nhà Vua đứng dậy không được có thể là do bệnh Liệt Bại Tay Chân, tức là
bệnh “BÁN THÂN BẤT TOẠI” (Hemiplegia) hay bị bệnh
“CHÓNG MẶT QUAY CUỒNG” (Vertigo), và cũng có thể
do cả hai bệnh chứng đó cùng xẩy ra một lúc và đã làm cho Nhà Vua không
thể nào đứng lên và bước đi ra ngoài được mà phải nằm suốt trên giường
bệnh.
-1/ “BÁN THÂN BẤT TOẠI” tức Liệt
Tay Chân về một phía (Hemiplegia hay Hemiparalysis) và cả “KHÔNG
CẢM GIÁC VỀ MỘT BÊN THÂN” (Hemiparesis) đều là những di chứng thường
tình của Bệnh Xuất Huyết Trong Não Bộ (Intracerebral Hemorrhage) do rối
loạn hệ thần kinh vận động và cảm giác.
-2/ “XÂY XẨM MẶT MÀY”, “ĐỨNG LÊN BỔ XUỐNG”,
CHÓNG MẶT QUAY CUỒNG” đều là những di chứng thường đi theo với
căn bệnh “Xuất Huyết Trong Não” hay “Xuất Huyết dưới Màng Nhện”. “Xây
Xẩm Mặt Mày” (Dizziness) nhẹ hơn “Chóng Mặt Quay Cuồng” (Vertigo). Chính
cái “Chóng Mặt Quay Cuồng” “Vertigo” nầy mà người xưa khi nói về căn bệnh
của Vua Quang Trung cũng đã nhắc nhở đến và đã gọi đó là “bênh Huyết vựng”
hay “Huyễn vựng” hay “Huyết vận” như tác giả Hoa Bằng đã có ghi ra. Trong
bệnh “Vertigo”, người bệnh thấy nhà cửa quay cuồng, bàn ghế quay cuồng,
đứng không thể nào vững và thường ngã xuống và đầu có thể va đập vào bàn
ghế gây thêm tổn thương Não.
- 3/ “ÓI MỬA”: Bệnh “Chóng mặt”
hay “Huyễn Vựng” nầy thông thường “đi đôi sát nút” với triệu chứng “Ói
Mửa”, thứ “Ói Mửa” mà người Huế gọi là “nhào đựng
nhào đột”, hay thứ “Mửa ra mật xanh mật vàng” mà từ ngữ Y khoa ngày nay
gọi là “Vomiting”.
Nhẹ nhất là “Buồn nôn”, “Buồn
Ói” hay “Muốn Mửa”,
từ ngữ Y khoa gọi là “Nausea”.
Nặng nhất là “Mửa” (Vomiting). Mỗi khi mửa, “ăn bao nhiêu ra bấy nhiêu”.
Hễ mỗi khi có sự chuyển động của đầu hay thân hình là có “Nausea” hay
“Vomiting” ngay lập tức. Thông thường trong căn bệnh “Xuất huyết Não,
Xuất Huyết Dưới Màn Nhện” thường có “Nausea” và “Vomiting” đi song đôi
với nhau. Hễ đứng lên ngồi xuống là sinh ra “chóng mặt quay cuồng” ngay
và sẽ “ói mửa lộn nhào”, không thể nào đứng dậy hay ngồi dậy để làm việc
gì được. Vua Quang Trung có thể đã phải chịu đựng những cơn hành hạ của
“Chóng Mặt, Ói Mửa” như đã trình bày ở đây và vì vậy mà Ngọc Hân Công
Chuá đã phải chạy khắp nơi để tìm Thầy chạy thuốc chữa bệnh cho Vua.
- 4/ “NHỨC ĐẦU NHƯ BÚA BỔ”: Triệu
chứng nhức đầu cấp tính khi xẩy ra Tai Biến Mạch Máu Não của Vua Quang
Trung đã xẩy ra “THÌNH LÌNH” đúng như sách vở ngày
nay đã ghi nhận. Vua Quang trung đã bị đau đầu dữ dội, “như có ai lấy
gậy sắt đập vào đầu”. Sau khi tỉnh lại, các bệnh nhân của “Xuất Huyết
Não” và nhất là “Xuất Huyết Dưới Màn Nhện” như Vua cũng vẫn thường vẫn
bị những cơn đau đầu ghê gớm hành hạ do sự đè nén (Mass Effect) của khối
máu đọng trên Não Bộ. Khi lên cơn đau đầu đó, có người đã phải ôm đầu
mà rên la. Và đó cũng là một di chứng của căn bệnh xuất huyết Não của
Nhà Vua .
- 5/ “NUỐT KHÓ”: Nếu bệnh nhân đã bị hư một bán cầu Não
thì rất có thể bệnh nhân đã có triệu chứng “NUỐT KHÓ”,
“NUỐT SẶC” do triệu hỗn loạn về “Chức Năng Nuốt”. Đồ ăn sở dĩ nuốt
được là nhờ hoạt động của các cơ co bóp của Thực quản dưới sự tác dụng
của các dây Thần Kinh Não Bộ số 9 và số 10. Khi Não Bộ một phía bị hư
thì hoạt động của các dây thần kinh của chức năng Nuốt về phía đó cũng
sẽ bị tê liệt và vì vậy sẽ phát sinh các rối loạn về Nuốt. Bệnh nhân sẽ
bị “Khó Nuốt” và thường bị “Nuốt Sặc” do đồ ăn đi “lạc đường (“Fausse
Route”) vào khí quản, gây nên phản ứng Sặc là phản ứng tự vệ thông thường.
Nếu rối loạn Nuốt khá nặng thì bệnh nhân có thể nuốt hít đồ ăn vào trong
“cuống phổi” tức vào trong Khí Quản, và sẽ gây nên “Viêm Phổi Hít” (Aspiration
Pneumonia), nguy hại đến tính mạng.
Nói tóm lại , theo dõi bệnh tật của Vua, chúng ta
có thể nhận thấy những dư chứng của căn bệnh của Vua trong những ngày
trước khi lâm chung có thể là:
- 1/ BẠI LIỆT NỬA NGƯỜI (Hemiplegia)
- 2/ ÓI MỬA (Nausea, Vomiting)
- 3/ CHÓNG MẶT (Dizziness, Vertigo)
- 4/ ĐAU ĐẦU (Headache)
- 5/ CỨNG CỔ, ĐAU CỔ (Meningismus)
- 6/ ĐỘNG KINH (Seizures)
- 7/ CO GIẬT (Convulsions)
- 8/ CHỨNG BỒN CHỒN (Restlessness)
- 9/ NUỐT KHÓ, NUỐT SẶC (Swallowing Problems)
- 10/ THỊ TRƯỜNG KHIẾM KHUYẾT (Visual Defect) (Có thể)
(phần 2)
VI/ ĐIỀU TRỊ (TREATMENT PLAN):
Trong bài “AI TƯ VÃN”, Ngọc Hân Công Chúa đã viết:
“Xiết bao kinh sợ lo phiền ,
MIẾU THẦN ĐÃ ĐẢO, THUỐC TIÊN LẠI CẦU.
KHẮP MỌI CHỐN ĐÂU ĐÂU TÌM RƯỚC,
PHƯƠNG PHÁP NÀO ĐỔI ĐƯỢC CÙNG CHĂNG?”
Chính Ngọc Hân Công Chúa, vợ Vua Quang Trung, đã cho chúng
ta biết là ngoài chuyện cầu khấn các đấng Thần Linh ở các Am Miếu linh
thiêng để cầu nguyện cho Nhà Vua, Bà cũng đã phải bôn ba mời Thầy tìm
thuốc khắp nơi để chữa cho Vua trong ngay sau cơn bạo bệnh hòng mong bệnh
tình Nhà Vua thay đổi, trở lại lành mạnh như cũ.
Trong vấn đề chữa trị cho Nhà Vua, chúng tôi nghĩ là chứng
bại liệt nửa thân khó lòng chữa chạy, bất cứ thầy thuốc nào, Đông hay
Tây, cũng đều biết thế. Nếu có thể dùng thuốc để chữa chạy cho Nhà Vua
là chữa chạy các chứng như: Ói Mửa, Chóng Mặt, Đau Đầu và Chứng động Kinh,
Co Giật chẳng hạn. Ngay chuyện đút cho Vua ăn chắc các gia nhân lúc đó
cũng đã phải rất cẩn thận, phải đút chậm chậm từ từ để khỏi gây ra “Chứng
Sặc”. “Sặc” là một phản xạ tự nhiên của con người để tống bỏ ra ngoài
các thức ăn đi lạc vào cuống phổi, không cho đồ ăn có thể vào phổi và
gây ra “Viêm Phổi Hít” (Aspiration Pneumonia). Ngay trong Y khoa ngày
nay, khi nuôi bệnh và cho bệnh nhân ăn sau khi bị “Xuất Huyết Não Dưới
Màng Nhện” cũng phải đút đồ ăn cho bệnh nhân một cách từ từ vì sợ bệnh
nhân bị “Viêm phổi Hít”. “Viêm phổi Hít” khi đã để xẩy ra sẽ là một vấn
đề trầm trọng, cho dù có áp dụng các phương tiện tân tiến của thời nay
như làm Nội Soi Khí Quản để hút đồ ăn đi lạc vào, xịt nước rửa khí quản
để làm vệ sinh khí quản (Bronchial Toilette) cũng như dùng những Kháng
Sinh đúng và mạnh để chận đứng nạn Nhiễm Trùng đáng sợ ở trên cơ thể những
con người đang kiệt quệ sức khoẻ với hệ thống miễn dịch yếu kém.
VII/ TIÊN LƯỢNG BỆNH TRẠNG (PROGNOSIS):
“Đại Nam Thực Lục Chính Biên” và “Đại Nam Chính Biên Liệt truyện”
còn cho ta biết là sau khi bị bạo bệnh, Nhà Vua đã TRỐI
TRĂN dặn dò Thái tử Quang Toản về đường hướng phải làm trong tương
lai. Vua cũng cho vời Trung Thư Trần Văn Kỷ và cả Trấn Thủ Nghệ An là
Trần Quang Diệu về Phú Xuân để bàn bạc chuyện dời đô ra Nghệ An. Vua Quang
Trung còn trối trăn căn dặn kỹ càng Trần Quang Diệu và triều đình: “Sau
khi ta mất, phải trong một tháng lo chôn cất sơ sài cho xong việc mà thôi.
Các ngươi phải phò Thái tử sớm ra Nghệ An để khống chế thiên hạ. Nếu không,
bị quân Gia Định kéo ra, các ngươi không còn chỗ chôn đấy”. Trong “Lê
Qúy Dật Sử” mà nhiều người cho là của Bùi Dương Lịch viết vào thời Tây
Sơn, còn cho thêm chi tiết khác “Tuân di lệnh của Vua cha, để tang ngắn
ngày, ba tháng là thôi mặc áo tang, sai sứ sang báo tang với nhà Thanh”.
Như vậy ta có thể suy ra hai điều về tình trạng của hệ
thống thần kinh của Vua mà Y khoa Pháp gọi là “Bilan Neurologique” và
Y khoa Mỹ gọi là “Neurological Status” như sau:
1/ Nhà Vua còn đủ óc phê
phán, suy tính đường lợi hại, trí thông minh của Vua vẫn còn tồn tại.
Trung Tâm của thông minh, của Suy Nghĩ và Lý Luận là ở Vùng Trán. Như
vậy Não Bộ Vùng Trán của Vua vẫn còn hoạt động.
2/ Nhà Vua vẫn còn năng
khiếu Ngôn Ngữ (Speech Language) để trối trăn, nói chuyện và bàn luận
với quần thần. Như vậy, Trung Tâm về Ngôn Ngữ của Vua vẫn còn hoạt động.
Trung tâm về Ngôn Ngữ thường ở bên phiá TRÁI của
người thuận dùng tay phải (95%) và như vậy ta có thể PHỎNG
ĐOÁN phía Não bên TRÁI của Nhà Vua vẫn hoạt
động bình thường
3/ Và vì vậy, chúng ta có
thể suy ra, phía bên chảy máu Não của Vua Quang Trung là phía PHẢI
và từ đó, có thể suy ra thêm là Vua bị bệnh BÁN
THÂN BẤT TOẠI BÊN TRÁI và tay chân phía bên PHẢI
có thể đang hoạt động bình thường. Lý do là vì các dây thần kinh vận động
tay chân từ Não Bộ bên TRÁI còn tốt phải chạy
TRÉO QUA phía bên PHẢI khi chạy xuống phía dưới Tủy Sống. Nếu Nhà
Vua muốn cầm tay các cận thần mà dặn dò trối trăn thì có thể Nhà Vua vào
hồi đó đã phải dùng tay PHẢI để cầm tay của kẻ cận thần đó.
Cũng cần biết, theo thống kê ngày nay, thì TIÊN
LƯỢNG về bệnh “Xuất Huyết Não dưới Màng Nhện” đã được đánh giá như sau:
30% chết ngay trong 30 ngày đầu, 30% các cas sẽ
hồi phục với di chứng tàn tật nặng nhẹ khác nhau và và 50% các cas sẽ
chết (vì trận xuất huyết lần đầu hay do xuất huyết tái phát) .
VIII/ CHỮA TRỊ BỆNH “XUẤT HUYẾT NÃO DƯỚI MÀNG NHỆN”
TRONG Y KHOA NGÀY NAY (TREATMENT PLAN OF SUBARACHNOID HEMORRHAGE IN MODERN
MEDICINE):
Ngày nay, một khi đã định bệnh ra là bệnh nhân bị “Xuất Huyết Não Dưới
Màng Nhện”, hoặc nói chung là khi đã nghi ngờ bệnh nhân bị Tai Biến Mạch
Máu Não thì người ta thường làm các “THỬ NGHIỆM”
cần thiết để chứng minh bệnh trạng và để ĐIỀU TRỊ cho
chắc chắn.
A/ THỬ
NGHIỆM (CLINICAL TESTS): Trong “Tai biến Mạch Máu Não”, ngày nay
người ta thường dùng các thử nghiệm sau:
-1/ CT Scan để biết Tai Biến Mạch Máu Não do Nghẽn Mạch
hay Xuất Huyết (thường được dùng nhất trong Xuất Huyết Dưới Màng Nhện).
-2/ Chọc Hút Dịch Não Tủy (để tìm máu trong dịch não).
-3/ X-Quang Mạch Máu (để ìm vị trí mạch máu vỡ , sau
khi chích chất cản quang vào dòng tuần hoàn).
-4/ MRI gíúp xác định chính xác vị trí hư hại trong Não
. Hình rất nhạy nên thường dùng trong bệnh Xuất Huyết Não do các mạch
máu nhỏ.
-5/ MRA (Magnetic Resonance Angiography).
-6/ Transcranial Doppler.
-7/ Xenon CT Scanning: dùng để đo lưu
lượng Máu trong Não.
-8/ Carotid Duplex Scanning : dùng Siêu
Âm để xác định xem động mạch cổ có bị nghẽn không
-9/ Radionuclide SPECT Scanning: dùng
chất phóng xạ để đo lưu lượng máu trong Não.
-10/ PET Scanning dùng để xác định sự biến dưỡng của
các vùng trong Não
-11/ Hình chụp mạch máu Não (Cerebral Angiography) để
thấy tình trạng các mạch máu Não.
B/ ĐIỀU TRỊ (TREATMENT):
Điều trị cấp cứu của bệnh Tai Biến Mạch Máu Não cần phải nhanh chóng vì
những hư hại của Não sẽ xẫy ra trong vòng vài giờ sau khi bị tai biến.
Ngoài cách sử dụng thuốc ra, trong vài trường hợp, ngày nay người ta phải
dùng đến PHẪU THUẬT, chẳng hạn như trong:
1/ XUẤT HUYẾT DƯỚI MÀNG NHỆN: (Subarachnoid Hemorrgage): Người ta làm
Vi phẫu “Động Mạch Phình” hoặc Vi phẫu “Dị Tật mạch máu bẩm sinh” (Microsurgery
for Aneurysm or Arterioveinous Malformation) và dùng kỷ thuật “Kẹp Mạch”
(Clipping). Kỹ thuật “Clipping” là “Tiêu Chuẩn Vàng” (Gold Standard) trong
phép điều trị bằng phẫu thuật của bệnh “Xuất Huyết Dưới Màng Nhện”.
2/ NGHẼN ĐỘNG MẠCH CỔ: Người ta làm Phẫu thuật trên Động Mạch Cổ, cắt
bỏ lớp bên trong của động mạch nầy (Carotid Endarterectomy) để loại bỏ
nguyên nhân nghẽn tắt.
3/ TÁI TẠO THÔNG MÁU: Để “Tái tạo thông máu” và
tái lập lưu lượng trong mạch máu, người ta làm “Phẫu thuật bắt cầu” (Shunt).
IX/ NGUYÊN NHÂN TỬ VONG (CAUSE OF
DEATH) CỦA VUA QUANG TRUNG:
Vua Quang Trung đã mất khoảng 2 tháng sau ngày bị “bạo bệnh” mặc dầu đã
được triều thần hết sức chữa chạy. Vua đã mất ngày 16 tháng 9 năm 1792
(tức ngày 29 tháng 7 âm lịch). Vua đã bị chứng bệnh gì để đưa đến tử vong?
Nói một cách khác, chứng bệnh tử vong của Vua có thể là những chứng bệnh
gì?
A/ BỆNH TÁI PHÁT (RECURRENCES):
Chứng “Xuất Huyết Dưới màng Nhện” (Subarachnoid Hemorrhage) cũng như mọi
chứng ”Xuất Huyết Trong Não” đều có thể tái phát. Thông thường các trường
hợp tái phát thường dữ dội hơn, có thể đưa đến tử vong rất dễ dàng. Tuy
nhiên, trong bệnh “Xuất Huyết Màng Nhện” thì bệnh tái phát tức “chảy máu
lại” thường trong vòng một vài tuần sau đó. Theo thống kê, 15% đến 20%
bị tái lại trong 2 tuần sau. Ở đây, Nhà Vua đã qua được đến gần hai tháng
nên nguyên nhân tử vong khó có thể là trường hợp tái phát xuất huyết của
bệnh .
B/ VIÊM PHỔI HÍT (ASPIRATION PNEUMONIA):
Một bệnh nhân khi bị tê liệt nửa người do bệnh “Xuất
Huyết Não” hay “Xuất Huyết Dưới Màng Nhện” thường có kèm theo những triệu
chứng rối loạn thần kinh của các chức năng NUỐT,
hay chức năng THỞ v.v.. . Rối loạn của chức năng
“NUỐT” thường dễ đưa đến “Sặc” và khi bị Sặc , thức
ăn thường có thể “chạy lộn đường” (“Fausse Route”) vào Khí Quản. Do đó,
hệ quả sẽ có thể là:
1/ TẮC NGHẼN PHẾ
QUẢN (Obstruction of Bronchioles) với hậu quả tạo
nên “Chứng Xẹp Phổi” (Pulmonary Atelectasis), làm giảm lượng Oxygen trong
Phổi và Máu. Ngoài ra, bệnh nhân bị Liệt Nửa Người thường nằm một bên,
vị trí ít thay đổi, ít di chuyển thân hình qua lại đều đều bên nầy và
bên kia nên các “Cục Đờm” (Mucus Plugs) dễ bị ứ đọng trong các phế quản
gây nên “Tắc nghẽn Phế quản” với hậu quả là “Chứng Phổi Xẹp” như đã nói
ở trên.
2/ NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG PHỔI
đưa đến “CHỨNG VIÊM HÍT” (Aspiration
Pneumonia). Sở dĩ có “Viêm Hít” là vì các mảnh thức ăn tác dụng như là
Vật Lạ trong Khí quản (Bronchial Foreign Bodies), sẽ là mầm mống sinh
ra Nhiễm Trùng. Hệ thống Miễn Nhiễm trong cơ thể các bệnh nhân bị Liệt
Bán Cầu Não lâu ngày thường bị suy yếu nên vì thế sức đề kháng chống lại
vi trùng cũng đã giảm thiểu rất nhiều. Vì vậy, “Viêm Phổi Hít” thường
rất dễ dẫn đến “Tử Vong” (Death).
Về Triệu chứng của Viêm Phổi Hít, lúc đầu thường là Ho ra đờm xanh, Khó
thở, Thở Khò Khè, có thể bị Sốt, Ớn Lạnh, Đau Ngực v...v…
Về Chữa Trị của Viêm Phổi Hít, trong Y khoa ngày nay như đã trình bày
ở trên, người ta phải dùng Kỹ Thuật Nội Soi Khí Quản (Bronchial Endoscopy)
để lấy “Vật Lạ” trong khí quản ra, phải Rửa Khí Quản (Bronchial Toilette)
và chữa trị mạnh tay với các KHÁNG SINH phù hợp
và với liều lượng đúng mức. Ngoài ra, phải cho bệnh nhân thay đổi vị trí
nằm thường xuyên, phải hút đờm nhiều lần bằng ống hút mềm xuyên qua mũi.
Khi cho bệnh nhân uống nước hay khi đút cho bệnh nhân ăn thường phải rất
cẩn thận, đừng để bệnh nhân sặc và nên dùng các thức ăn mềm đã xay nhuyễn.
Bệnh “Viêm Phổi Hít” thường khởi đầu bằng “Viêm Màng Phổi” rồi tiến dần
đến “Tràn Dịch Màng Phổi” với Dịch bao quanh phổi, đưa đến “Mủ Màng Phổi”
với Mủ bao quanh phổi và cuối cùng là tử vong do “CHỨNG
SUY HÔ HẤP” (RESPIRATORY DISTRESS) và Chức năng Hô Hấp hoàn toàn
bị suy sụp. Bệnh nhân sẽ không thở được nữa và Oxygen sẽ không còn vào
Não Bộ.
Con đường cuối cùng đưa đến tử vong (Road Map to The End) của những bệnh
nhân bị Liệt Bán Cầu Não lâu ngày thường là thế. Và vì vậy, theo chúng
tôi, rất có thể SAU KHI bị bệnh “XUẤT
HUYẾT NÃO DƯỚI MÀNG NHỆN” suốt hai tháng trời: VUA
QUANG TRUNG ĐÃ QUA ĐỜI VÌ BỆNH VIÊM PHỔI HÍT (ASPIRATION PHEUMONIA).
X/ KẾT LUẬN (CONCLUSIONS):
Và như thế, dựa vào các hiểu biết của Y Khoa ngày nay phối hợp với các
Tư liệu Sử Học có giá trị còn lưu lại, chúng tôi hy vọng là chúng ta đã
có thể đi đến kết luận “KHẢ DĨ” cuối cùng để có thể TRẢ LỜI HAI CÂU HỎI
mà hằng bao thế hệ người Việt Nam đã đặt ra về “CÁI
CHẾT CỦA VUA QUANG TRUNG”:
- CĂN BỆNH KHỞI ĐẦU CỦA VUA QUANG TRUNG LÀ GÌ?
- NGUYÊN NHÂN TỬ VONG CỦA VUA QUANG TRUNG LÀ GÌ?
“NGUYÊN NHÂN CÁI CHẾT CỦA VUA QUANG
TRUNG”:
1/ CĂN BỆNH CỦA VUA QUANG TRUNG:
XUẤT HUYẾT NÃO DƯỚI MÀNG NHỆN (SubArachnoid Hemorrhage)
DO “VỠ MẠCH PHÌNH” (Aneurysm Rupture)
2/ NGUYÊN NHÂN TỬ VONG CỦA VUA QUANG TRUNG:
VIÊM PHỔI HÍT (Aspiration
Pneumonia)
VÀ SUY HÔ HẤP (Respiratory
Distress)
Theo chúng tôi , hai câu trả lời trên là hai câu trả lời
“KHẢ DĨ NHẤT” và “CÓ ĐỘ CAO TIN CẬY NHẤT” mà chúng ta ngày nay có thể
suy diễn được từ các tư liệu Sử Học còn lưu lại và qua các hiểu biết của
Y Khoa ngày nay (2008).
B.S. Bùi Minh Đức
- Hội Viên Hội Tai Mũi Họng và Phẫu Thuật Đầu Cổ
Hoa Kỳ (Fellow)
- Hội Viên Hội Mũi Học Hoa Kỳ (Fellow)
- Hội Viên Hội Tai Mũi Họng và Phẫu Thuật Đầu Cổ
Đức Quốc (HNO FachArzt)
- Chủ Nhiệm Bộ Môn Tai Mũi Họng , Đại Học Y Khoa
Huế (trước 1975)
YDNN xin cảm ơn Bs Bùi Minh Đức
Copyright, 2008. Muốn phổ biến bài
viết này, cần xin phép tác giả và xin
ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com
>>>back>>>
|
 |