THÔNG TIN Y DƯỢC THÁNG 10 (Phần 1)
Dược sĩ Lê-văn-Nhân

Những thuốc cạnh tranh với Plavix
Prasugrel (Effient), thuốc chống tiễu cầu giống clopidogrel (Plavix), được chấp thuận để ngừa nhồi máu cơ tim và đột quỵ ở bệnh nhân có hội chứng động mạch vành cấp được quản lý bằng phương pháp tạo hình mạch (angioplasty). Trong 1 nghiên cứu lâm sàng lớn, bệnh nhân điều trị với prasugrel có tỷ lệ thấp tử vong tim mạch, đột quỵ và nhồi máu cơ tim so với người dùng clopidogrel (10% so với 12% theo thứ tự). Tuy nhiên, prasugrel liên quan với nguy cơ đe dọa tính mệnh và chảy máu chết người, được nhấn mạnh trong hộp đen cảnh báo ở thông tin nhãn thuốc.
Khác với clopidogrel, prasugrel không có vẻ chịu ảnh hưởng của thuốc chống bơm proton như omeprazol, có thể được kê đơn cùng với thuốc chống tiểu cầu để ngừa xuất huyết đường ruột. Quyết định dùng clopidogrel hay prasugrel tùy theo tình trạng mỗi bệnh nhân. Dược sĩ nên nhắc nhở bác sĩ kê đơn là prasugrel không được dùng cho bệnh nhân đang xuất huyết, có bệnh sử cơn thiếu máu tại chỗ thoảng qua (TIA) hay đột quỵ, hay đang chở mỗ. Thông thường, nên tránh dùng cho người cao tuổi từ 75 trở lên và người cân nặng dưới 132 Lbs hay 60 Kg.
Theo J Manage Care Pharm. số 15 năm 2009

Ticagrelor (Brilinta) là thuốc chống huyết khối mới tốt hơn clopidogrel để ngừa nhồi máu cơ tim mới hay giảm tử vong ở bệnh nhân đã bị nhồi máu cơ tim, theo 1 nghiên cứu mới tìm thấy.
Báo cáo nghiên cứu đưa lên báo NEJM ngày 08.30.09 trùng với ngày đại hội khoa tim Âu châu ở Barcelona.
Trong pha 3 nghiên cứu PLATO (Platelet Inhibition and Patient Outcomes tạm dịch là Ức chế tiểu cầu và kết quả ở bệnh nhân), 18 624 bệnh nhân được phân phối ngẩu nhiên dùng Ticagrelor hay Clopidogrel. Cả 2 thuốc này đều chống huyết khối là nguyên nhân có thể đưa đến một lần nhồi máu cơ tim khác. Trong 12 tháng, bệnh nhân dùng ticagrelor ít bị hơn nhồi máu cơ tim và đột quỵ so với bệnh nhân dùng clopidogrel (9.8% so với 11.7% theo thứ tự). Hơn nữa, tử suất bệnh nhân dùng ticagrelor thấp hơn (4.5%) so với nhóm dùng clopidogrel (5.9%).
Nguy cơ lớn nhất với những thuốc này là xuất huyết nguy hiểm đến tính mệnh, nhưng không thấy khác biệt đáng kể về nguy cơ chảy máu, các nhà nghiên cứu ghi nhận. Tuy nhiên, bệnh nhân dùng Ticagrelor có vẻ dễ bị xuất huyết trong não hay dạ dày ruột so với nhóm dùng clopidogrel (4.5% so với 3.8%). Ngoài ra, thở dốc cũng phổ thông hơn ở bệnh nhân dùng ticagrelor so với nhóm dùng clopidogrel (14.2% so với 9.2% theo thứ tự). Tuy nhiên, chỉ vài bệnh nhân phải bỏ điều trị vì lý do này.

Thuốc mới ức chế DPP-4 trị bệnh tiểu đường type 2:
Saxagliptin (Onglyza) được FDA chấp thuận trị bệnh TD2 uống ngày 1 lần. Giống như thuốc Sitagliptin (Janivia), saxagliptin là thuốc uống ức chế DPP-4. Nhóm thuốc hạ đường này kích thích tụy tạng sinh nhiều nsulin hơn sau bữa ăn. FDA dựa trên 8 nghiên cứu lâm sàng. Kết quả cho thấy saxagliptin tốt hơn giả dược để giảm hemoglobin A1c, mức glucose bụng đói và sau khi ăn ở bệnh nhân TD2. Saxagliptin thêm vào metformin, sulfonylurea hay thiazolidinedione giảm hemoglobin A1c nhiều hơn nữa so với dùng riêng lẻ từng thuốc một.
Trong khi saxagliptin không có vẻ gây nguy cơ tim mạch như rosiglitazone và pioglitazone, FDA yêu cầu nghiên cứu sau khi đưa thuốc ra thị trường và tập trung vào an toàn tim mạch ở người có nguy cơ cao về tim mạch.
Tác dụng phụ phổ thông nhất của saxagliptin gồm nhiễm trùng đường hô hấp trên, nhiễm trùng đường tiểu, nhức đầu và dị ứng.
Theo tin FDA

Thuốc chống loạn trí có thể nối kết với nguy cơ thấp bạch cầu hay bạch cầu trung tính: FDA vừa chấp thuận cảnh báo liên quan tạm thời giữa thuốc chống loạn trí và phát sinh hạ bạch cầu, bạch cầu trung tính và mất bạch cầu có hạt.
Những thuốc chống loạn trí sau: aripiprazole (Abilify) viên nén, viên rã trong miệng, dung dịch uống, ziprazidone (Geodon) viên nang hay dạng tiêm mesylate, haloperidol decanoate, paliperidone viên nhả chậm (Invega), molindone, thiothixene, risperidone nằm trong danh sách này.
Bệnh nhân với yếu tố nguy cơ hạ bạch cầu.bạch cầu trung tính, như bạch cầu đang thấp hay giảm bạch cầu do thuốc, phải được theo dõi công thức đếm máu trong vài tháng đầu. Thuốc chống loạn trí phải ngưng khi thấy dấu hiệu đầu tiên giảm bạch cầu mà không thể quy cho những nguyên nhân khác.
Bệnh nhân hạ nhiều bạch cầu trung tính phải được theo dõi cẩn thận xem có bị sốt hay dấu hiệu nhiễm trùng và phải chửa ngay nếu triệu chứng xảy ra. Trường hợp bạch cầu trung tính < 1000/mm3 phải ngưng thuốc chống loạn trí và theo dõi bạch cầu cho đến khi bình phục.

FDA chấp thuận thuốc chống loạn trí mới Asenapine (Saphris)
Trong tháng 8, FDA công bố chấp thuận đưa ra thị trường Hoa-kỳ thuốc Anesapine tên biệt dược Saphris với chỉ định điều trị bệnh tâm thần phân liệt và rối loạn nhị cực type I. Asenapine được sắp vào loại thuốc chống loạn trí không điển hình.
Thuốc này có tính kháng dopamin trên thụ thể d2 và kháng serotonin trên thụ thể 5HT2, và tác dụng với nhiều thụ thể khác.
Chưa biết ưu điểm của Asenapine so với các thuốc hiện hữu như thế nào.

Chống chỉ định dùng chung gemfibrosil (Lopid) với Repaglinide
Ngày 14 tháng 7, FDA chấp thuận thay đổi thông tin gemfibrosil viên cảnh báo tương tác thuốc với repaglinide (Prandil). Repaglinide chuyển hóa một phần bởi enzym CYP 2C8; dùng chung với thuốc ức chế CYP 2C8 có thể giảm chuyển hóa và tăng nguy cơ tác dụng nghịch do phơi nhiễm.
Trong một nghiên cứu dược động học ở người tình nguyện khoẻ mạnh, dùng chung 100 mg gemfibrosil sẽ tăng gấp 8 lần tổng số phơi nhiễm với liều 0,25 mg repaglinide và kéo dài thời gian bán thải từ 1.3 giờ thành 3.7 giờ. Vì nguy cơ đường hạ thấp trầm trọng, không được dùng chung 2 thuốc này.
Gemfibrosil là fibrat hạ lipid huyết và repaglinide là thuốc giảm đường sau bữa ăn.

Ambrisentan (Letairis) liên kết với nguy cơ giảm tinh trùng
FDA chấp thuận thay đổi thông tin viên ambrisentan về nguy cơ giảm lượng tinh trùng đếm được ở đàn ông.Những chất đối kháng thụ thể endothelin như ambrisentan và bosentan, có tác dụng sâu đậm lên tính chất mô học và chức năng của tinh hoàn thú vật. Những thuốc này cho thấy cảm ứng tiềm năng teo nhỏ không thuận nghịch tiểu quản chứa tinh dịch của tinh hoàn và giảm lượng tinh trùng và khả năng có con ở chuột cống khi cho dùng trên 10 tuần. Dữ liệu mới từ 1 nghiên cứu mở, nhóm đơn, nhiều trung tâm, nghiên cứu an toàn thực hiện ở người đã chứng minh cụ thể tiềm năng bosentan (Tracleer) giảm sinh sản tinh trùng.
Trong nghiên cứu, 25 nam bệnh nhân phân loại chức năng theo tổ chức y tế thế giới cao áp động mạch phổi bậc 3 và 4 và mức căn bản đếm tinh trùng bình thường uống bosentan 62.5 mg ngày 2 lần trong 4 tuần, sau đó 125 mg ngày 2 lần trong 5 tháng. 23 người hoàn tất nghiên cứu, 2 người bỏ cuộc vì tác dụng nghịch không liên quan đến chức năng tinh hoàn.
Kết quả phát hiện giảm lượng tinh trùng ≥ 50% ở 25% bệnh nhân sau 3-6 tháng điều trị với bosentan. Lượng tinh trùng đếm được duy trì ở mức bình thường trong tất cả 22 bệnh nhân sau 6 tháng, và không thay đổi hình dáng tinh trùng, chuyển động tinh trùng hay mức hormon. 1 bệnh nhân thấy số tinh trùng rất thấp từ tháng thứ 3, lượng tinh trùng vẫn thấp ở 2 lần khám tiếp theo trong 6 tuần kế tiếp, nhưng trở lại mức căn bản 2 tháng sau khi ngưng bosentan.
Dựa trên những điều tìm thấy này và dữ liệu tiền lâm sàng, FDA nhắc nhở tiềm năng tác dụng nghịch về sinh tinh trùng với thuốc đối kháng thụ thể endothelin như ambrisentan không thể loại bỏ.
Bệnh nhân phải được thông báo là một số đàn ông điều trị với ambrisentan có thể bị giảm tinh trùng, ảnh hưởng khả năng làm bố.
Ambrisentan được chỉ định điều trị cao áp động mạch phổi.

Omalizumab (Xolair) có thể tăng nguy cơ tim mạch theo bộ y tế Canada
Omalizumab là kháng thể đơn giòng chống IgE cho người bị hen suyển có phản ứng dương tính với allergen quanh năm. Bộ y tế Canada, trong thông báo ngày 13 tháng 8, có khả năng tăng nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân hen suyển điều trị liên tục với Omalizumab. Đây mới chỉ là cảnh báo chứ chưa có quyết định thu hồi.

Fluoroquinolon liên kết với bệnh nhìn 1 thành 2
Nghiên cứu mới gợi ý fluoroquinolon có thể gây ra chứng song thị hay nhìn 1 thành 2. Theo Tổ chức y tế thế giới, liên quan giữa điều trị fluoroquinolon và chứng song thị là chuyện có thể xảy ra, theo người cầm đầu cuộc nghiên cứu tại đại học y khoa ở Oregon. Ý niệm nhân quả này dựa trên liên quan giữa thuốc đưa vào cơ thể và phát triển tác dụng độc hại của thuốc, nhiều báo cáo làm mất thử thách hay thử thách lại, và những cơ chế có vẻ hợp lý mà chứng song thị có thể xảy ra: có khả năng viêm gân (tendinitis) của cơ ngoài tròng mắt.
Trong báo cáo trên báo Nhãn khoa tháng 9, tác giả đánh giá liên kết giữa fluoroquinolon và chứng song thị bằng cách phân tích 171 báo cáo ca bệnh từ cơ quan đăng ký quốc gia về tác phụ ở mắt do thuốc gây ra, của tổ chức y tế thế giới và của FDA.
Báo cáo gồm 76 nam bệnh nhân, 91 nữ bệnh nhân và 4 người không biết rõ phái tính. Liều biến đổi tủy theo thuốc fluoroquinolon dùng, nhưng thông thường ở giữa liều khuyên dùng cho mỗi thuốc.
Thời gian trung bình cho fluoroquinolon dùng phát sinh chứng song thị là 9.6 ngày, biến đổi từ 1 ngày đến 5 tháng. Bệnh viêm gân xảy ra cùng lúc thấy ở 17 bệnh nhân. 49 bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên, 1 người có u nang thận, và 4 người đang dùng thuốc chống viêm steroid. Theo phát biểu của tác giả, thuốc ngưng ở 53 bệnh nhân và chứng song thị giảm dần ở tất cả 53 người.
Bác sĩ nên cảnh giác chứng song thị có thể xảy ra khi bệnh nhân dùng fluoroquinolon và dược sĩ nên báo cho bệnh nhân nếu thấy nhìn 1 thành 2 trong khi dùng fluoroquinolon nên gặp bác sĩ lại.

Cephalosporin đầu tiên chống MRSA
Caeftobiprole medocaril là thuốc đầu trong nhóm kháng sinh cephalosporin có hoạt tính chống khuẩn Staph. aureus kháng methicillin (MRSA). Thuốc được FDA gởi thư chấp thuận trong tháng 3/08 và bộ y tế của canada tháng 06/08 để điều trị nhiễm trùng da có biến chứng và nhiễm trùng cấu trúc da như nhiễm trùng bàn chân người bệnh tiểu đường.
Ceftobiprole tạo ra tác dụng bằng cách ức chế protein gắn với penicillin (PBP: Penicillin-binding protein) tham dự vào tổng hợp thành tế bào vi khuẩn. Thuốc bền chống thủy phân do nhiều khuẩn Gram dương β-lactamase và ái lực cao với nhiều PBP khác nhau (như PBP2a của MRSA và PBP2x của Streptococcus pneumoniae), đưa đến phổ tác dụng rộng hơn so với những β-lactam cũ.
Ceftobiprole không tác dụng lên các phổ nới rộng (Enterobacteriacea sinh β-lactamase và vài vi trùng gây bệnh khác như Enterococcus faecium hay Acineto-bacter baumani. Nói chung, dung nạp tốt, tác dụng phổ thông gồm buồn nôn và rối loạn vị giác. ceftobiprole có vẻ không thua kémđiều trị theo kinh nghiệm trong nhiều thử nghiệm lâm sàng.
Ceftobiprole có sẵn ở dạng tiêm tĩnh mạch; liều lượng khuyên dùng chưa được FDA chấp thuận. Tuy nhiên, theo thông tin thuốc ở Canada, liều khuyên dùng là 500 mg truyền tĩnh mạch trong 1 giờ cho mỗi 12 giờ để điều trị da có biến chứng hay nhiễm trùng cấu trúc da do một số vi khuẩn gây bệnh Gram dương, và 500 mg truyền tĩnh mạch 2 giờ mỗi 8 giờ cho vi trùng Gram âm nhạy cảm hay nếu cả 2 vi trùng Gram dương và âm cùng nhiễm.
Điều chỉnh liều chỉ định cho bệnh nhân suy thận từ vừa phải đến trầm trọng, và liều khuyên dùng từ 500 mg hay 250 mg theo thứ tự, truyền tĩnh mạch trong 2 giờ mỗi 12 giờ. Nhiều thận trọng về mức quá mẫn và không tương hợp thuốc được báo cáo.
Ceftobiprole đại diện cho chọn lựa hứa hẹn để điều trị nhiễm trùng đơn hay đa do vi khuẩn Gram dương kháng nhiều thuốc hay vi khuẩn Gram âm nhạy cảm thuốc, nhưng nghiên cứu thêm về độc tính và an toàn cần được bảo đảm.
Theo Pharmacotherapy 09/2009

Thuốc trị động kinh giúp phụ nữ bị bốc hỏa ngủ được
Gabapentin (biệt dược Neurontin), là thuốc điều trị động kinh, cải thiện được giấc ngủ của phụ nữ bị rắc rối vì những cơn phát nóng, theo đại học y khoa rochester đăng trên báo về sức khoẻ phụ nữ.
Phỏng chừng 40% phụ nữ mãn kinh bị rối loạn giấc ngủ. Họ thường khó chợp mắt và ngủ yên suốt đểm.
Trong một nghiên cứu trước đây, các nhà nghiên cứu đại học rochester tìm thấy Gabapentin giúp giảm nhẹ những cơn bốc hỏa. Nghiên cứu hiện nay, là nghiên cứu đầu tiên cho thấy điều lợi duy trì cho phẩm chất giấc ngủ với gabapentin.
Muốn tìm hiểu tác dụng của gabapentin lên giấc ngủ, các nhà nghiên cứu dùng dữ liệu từ nghiên cứu gabapentin trước đây ở 59 phụ nữ sau tuổi mãn kinh trải qua từ 7 đến 20 lần bốc hỏa mỗi ngày. Những người này dùng Gabapentin 300 mg ngày 3 lần hay dùng giả dược.
Căn cứ trên bảng điểm về phẩm chất giấc ngủ Pittsburgh, là 1 bảng câu hỏi đánh giá giấc ngủ, họ thấy phụ nữ dùng Gabapentin báo cáo phẩm chất giấc ngủ tốt hơn người dùng giả dược.
Người cầm đầu cuộc nghiên cứu bảo Gabapentin cải thiện phẩm chất giấc ngủ nhưng không có tiềm năng làm cho bệnh nhân phụ thuộc thuốc như những loại thuốc ngủ khác. Thuốc có ít tác dụng phụ và đã có dạng generic nên ít tốn kém.
Theo J of women’s Health tháng 9/2009
Ghi chú: Phụ nữ Việt-nam thường nhỏ con và nhẹ cân hơn phụ nữ Âu Mỹ, một số cho biết bị thuốc hành khi dùng nhưng không mô tả rõ chi tiết, một trường hợp hạ huyết áp ở 1 người đã ổn định với thuốc trị cao huyết áp. Do đó, chúng tôi đề nghị, với phụ nữ Việt-nam, nên bắt đầu bằng viên 100 mg tăng dần lên cho đến 300 mg mỗi ngày, nếu thấy chịu thuốc mới nên dùng liều đề nghị trên.

Thuốc giảm nguy cơ ung thư vú có thể gây ra những nguy hiểm khác
Phân tích ghi nhận tamoxifen, raloxifene có thể gây ra những ung thư khác và huyết khối. Thuốc thứ ba tibolone, chưa có ở thị trường Hoa-kỳ. Các nhà nghiên cứu khi nhìn vào những nghiên cứu đã công bố, tìm thấy 3 thuốc này đã giảm nguy cơ xâm lấn ung thư vú 30 đến 68%. Nhưng những thuốc này cũng gây ra những nguy cơ mới, và khác nhau ở phía gây hại.
Tamoxifen được dùng trong nhiều năm để giảm cơ hội tái phát ở phụ nữ ung thư vú. Tuy nhiên mới đây, các nhà nghiên cứu tìm thấy tamoxigen chỉ giảm nguy cơ ở loại ung thư vú phổ thông gọi là ER-dương, trong khi tăng nguy cơ phát sinh ung thư vú Er-âm tính, một bệnh càng xâm lấn hơn ở người ung thư vú còn sống sót.
Với phụ nữ không ung thư nhưng có nguy cơ cao ung thư vú do đột biến gen BRCÁ và BRCA2, gia đình có người ung thư, hay cả hai. Một số chọn dùng tamoxifen để giảm nguy cơ. Có thể bảo cách này là giảm nguy cơ chứ không phải ngừa bệnh. Nhưng khi nhìn vào kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học tìm thấy tamoxifen và raloxifene làm tăng huyết khối 60 đến 90%. Raloxifen gây huyết khối ít hơn tamoxifen.
So với giả dược, tamoxifen có nhiều khả năng đưa đến ung thư màng trong tử cung và sinh cườm mắt nhiều hơn raloxifene. Ở phụ nữ trên 70 tuổi, tibolone liên quan với đột quỵ.
Bác sĩ điều trị nên cân nhắc rõ lợi hại trước khi quyết định dùng thuốc, và nên thảo luận với bệnh nhân những nguy cơ này.
Theo Annals of Internal Medecine 09.15.09

Dược sĩ Lê-văn-Nhân

Copyright, 2009. Muốn phổ biến bài viết này, cần xin phép tác giả và xin ghi rõ nguồn Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com

>>>back>>>

Dược Phẩm