Ung Thư/ Vú/ Hormones/ ATAC trial-endocrine symptoms
Bác sĩ Nguyễn Tài Mai

(lời bàn cuả NTM)
Trong ung thư, rất gần đây có mộ số nhận xét khá mới, nghe có vẻ hợp lý (rational) nhưng chưa chứng minh được: Nếu hiệu ứng phụ (side effects) càng quan trọng, càng rõ rệt, càng nặng; điều ấy có thể chứng tỏ gián tiếp là thuốc đó có hiệu quả tốt trong việc điều trị (nói cách khác: ung thư đó "phản ứng tốt " với thuốc đó) (nếu nghĩ theo tiếng Anh: "there is a positive correlation between side-effects of an agent and responsiveness to treatment").

Thật ra đó cũng theo một nhận xét khác đã thấy trong oncology nhưng chỉ là nhận xét bên giường bệnh khôgn có chứng minh (empiric) (mà không thấy viết rõ trong văn chương y khoa thế giới): nếu chemotherapy không đủ tạo ra hiệu ứng phụ - như tạo ra giảm tế bào máu trắng rất nhanh và rất nặng, thì thuốc đó có lẽ không có hiệu quả.

Cho đến nay, có những tin tức theo lối suy nghĩ này trong hai nhóm bệnh sau đây:
(1) Trong việc chữa ung thư dùng những thuốc chống EGFR (Epidermal Growth Factor Receptor antibodies) (cetuximab chẳng hạn), ta thấy có bnhân bị "mụn trứng cá" (acneiform skin rash) ở mặt và toàn thân; và trong literature hiện nay, đã có rất nhiều mô tả là nếu bnhân có nổi mẩn thì thuốc mới có hiệu quả.
(2) Trong trường hợp ghép tủy (allogeneic transplantation): các phản ứng Ghép-chống-Chủ (GVH - graft versus host) cũng có thể tiên đoán được sự thành công trong việc ghép.

Trong bài sau đây các tác giả đưa ra một nhận xét mới trong việc dùng kích tố để chữa ung thư vú. Các tác giả cho rằng cũng có sự liên hệ giữa môt. số phản ứng cuả cơ thể và các thuốc chống kích tố nữ: Tamoxifen, và ba thứ thuốc aromatase inhibitors hiện đang dùng: anastrozole, letrozole và exemestane. Các phản ứng mà tác giả muốn đề cập đến là triệu chứng co dã mạch (vasomotor symptoms - chẳng hạn nóng bừng mặt - hot flashes) hay đau khớp (arthralgia).
Các tác giả đưa đến kết luận: Trong việc chữa ung thư vú, sự xuất hiện của các triệu chứng này trong vòng ba tháng từ khi chưã trị có thể là một dấu chứng sinh học (a biomarker) để tiên đoán một bnhân nào đó sẽ có kết quả tốt đối với thuốc chống kích tố nữ. Tuy nhiên đây là một retrospective study.

The Lancet Oncology Vol 9 Dec 2008, p 1143 : J Cuzick et al ATAC trial: Treatment-emergent endocrine symptoms and the risk of breast cancer recurrence: a retrospective analysis of the ATAC trial.

Disclaimer: bài này qúy vị có thể phổ biến tự do, không cần xin phép tác giả (Nguyễn Tài Mai), chỉ cần đề: bài do BS Nguyễn Tài Mai, đăng trên diễn đàn y sĩ ngày 18 tháng 1 năm 2009 (tôi không giữ lại bản đã viết, cho nên nếu có câu hỏi xin kèm bài này để dẫn chứng).
Việc chữa bệnh từng bệnh nhân riêng biệt dĩ nhiên hoàn toàn tùy thuộc y sĩ điều trị, y sĩ máu, y sĩ ung thư của trường hợp đó.

Bs Nguyễn Tài Mai, Chuyên Khoa Bệnh Máu và Ung Thư

Xin ghi rõ nguồn: Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com

>>>back>>>

Thảo Luận Báo Y Khoa